VĂN, THƠ…….

CHỦ ĐỀ THÁNG 4-1975    

THƠ

đoàn xuân thu
______________________________

CHUÔNG ƠI, ĐỪNG REO NỮA

“Lỡ mai cha yếu mẹ già
chén cơm, đôi đũa, bộ kỷ trà ai dâng?” * ỷ ề

Con theo chồng,

chỉ cách một bến sông;

má nghĩ xa ngàn dặm.

Chiều bến sông, con buồn ra giặt áo

phía kia bờ, má ảo não đứng trông.

Nước mất nhà tan,

con lên đường vượt biển;

cách một bến sông,

giờ thêm ngàn dặm biển,

con đâu ngờ xa má lần này:

là vĩnh viễn ngàn năm.

Điện thoại viễn liên,

bên kia trời – nổi nhớ;

sao em lặng yên? rồi nức nở!

Ôi má ơi! Cả trời thương sụp đổ.

“Con không kịp v, giờ phút cuối, má thương ơi!”

Con vào, ra, tựa cửa, bóng tang thương!

xưa dải khăn sô cho quê hương.

giờ dải khăn sô cho má.

Má là quê hương;

quê hương là má.

Ngôi vườn cũ ai sẽ ngồi đốt lá?

khói lên trời tìm kiếm đứa con xa.

Điện thoại viễn liên, con không buồn nghe nữa;

thôi đã tắt đời con bếp lửa!

má mất rồi! chuông reo nữa mà chi!

*Ca dao.

đoàn xuân thu

Nhà văn PHÙNG NHÂN phát biểu về bài thơ Chuông ơi, đừng reo nữa của Đoàn Xuân Thu trong Buổi Phát Giải Thưởng “Bài Thơ Đắc Ý năm 2008″ của Bán Tuần báo Việt Luận, Úc Châu.

(Trích từ bài viết đăng trong Bản Tin số 39 của Hội Ái Hữu CHS Nguyễn Đình Chiểu- Lê Ngọc Hân Mỹ Tho, phát hành trên mạng tháng 3 năm 2009, số Đặc Biệt Kỷ Niệm 130 năm thành lập TH. Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho)

Về ba giải thưởng của Vườn Thơ Giao Cảm năm nay, bài thơ “Chuông Ơi Đừng Reo Nữa” của Đoàn Xuân Thu được chiếm giải Nhì. Đây là một bài thơ với nguồn cảm xúc rất mới, và cũng rất cũ như một cái áo đã bị bỏ sót dưới đáy rương. Tuy nhiên được Đoàn Xuân Thu làm mới lại, qua bao cảm xúc ngậm ngùi, khi anh diễn tả lại thân phận của người con gái theo chồng. Mà mười hai bến nước, biết bến nào đục, bến nào trong để gởi thân vào.

Cũng như thân phận của người thuyền nhân vượt biển, phải trốn ra đi trong cảnh ngậm ngùi uất ức, giữa biển khơi sóng bủa mịt mùng. Rồi khi bước được lên phần đất tự do sống nơi xứ lạ quê người, cũng là ngày “Má” nhắm mắt ra đi. Từng tiếng chuông điện thoại viễn liên đổ liên hồi, để báo một hung tin, của phía bên kia bờ biển Thái Bình Dương vọng lại. Má ơi; Má không còn nữa! Một nỗi ngậm ngùi đau đớn tang thương.

Trong khoảnh khắc bùi ngùi đó, Đoàn Xuân Thu đã vẽ ra được giải khăn sô cho Má, cho khắp nẻo quê hương đang tang tóc dưới bàn tay cai trị của chế độ cộng sản hiện thời, và cũng đồng thời vẽ lên bao cảnh chiều hôm. Khi bóng chiều buông xuống, Má có còn âm thầm ngồi gom lá đốt cho khói tỏa lên trời, để làm nguôi lòng trong lúc quạnh hiu. Cũng như con chim chỉ cần một lần bị ná, thì thấy nhánh cây công nào cũng tưởng cái giàn thung, nên Đoàn Xuân Thu đã cho chúng ta một cái cảm giác rất hồn nhiên, mà cũng là thực tế. Khi nghe điện thoại viễn liên thì chắc phải có điều gì, bếp lửa đời đã tắt, hay là Má đã ra đi. Thôi thì chuông ơi đừng reo nữa…

Vậy thì chúng ta hãy cùng đọc với nhau, một vài đoạn thơ đã chiếm giải Nhì:

Con theo chồng,

Chỉ cách một bến sông;

Má nghĩ xa ngàn dặm

Chiều bến sông, con buồn ra giặt áo

Phía kia bờ, má áo não đứng trông…

Trong hồn thơ da diết, dường như đang réo gọi một điều gì. Một thân phận của người con gái, nữ sanh ngoại tộc của một thời Nho giáo còn sót lại đâu đây, hay là tiếng chim bìm bịp gọi nhau trong cơn nước lớn, hay đó là tiếng chim từ quy khắc khoải gọi về? Điều gì cũng có thể. Vì hồn thơ quá lớn, nó mênh mông tràn đầy cảm xúc, gợi cho chúng ta nhớ lại non nước ở quê nhà. Có cây cầu nước bắc xuống con rạch nhỏ, hoặc ở con sông lớn Tiền Giang, hay Hậu Giang. Phía bên nầy đứng nhìn sang phía bên kia, chỉ thấy chập chùng khói sóng. Mà ở bên đó đã có mẹ già, đang tựa cửa nhớ con. Đó cũng là nỗi nhớ của đứa con gái theo chồng, mà cũng là nỗi nhớ đến những đứa con, đang âm thầm trốn khỏi quê hương ra đi trên chiếc ghe nhỏ xíu. Không chuẩn bị đủ lương thực, nước uống cho một cuộc hải trình nhưng cũng phải ra đi. Cũng như tấm thân của người con gái phải lấy chồng, khi mẹ cha định đoạt. Đó là một khổ thơ, đã nói và vẽ lên một cảnh đời trôi nổi, nhớ thương…

Qua đoạn thơ thứ ba, thì Đoàn Xuân Thu đã làm cho chúng ta giựt mình nhớ lại, trong cuộc đời tỵ nạn của mình. Trước sau gì cũng phải nhận một cuộc điện thoại viễn liên, nhưng trong cuộc điện thoại đó lại báo một tin buồn thảm khốc. Vậy chúng ta hãy cùng nhau đọc thử:

Điện thoại viễn liên;

Bên kia trời – nỗi nhớ

Sao em lặng yên? rồi nức nở!

Ôi má ơi! Cả trời thương sụp đổ…

“ Con không về kịp, giờ phút cuối, má thương ơi!”

Phải nói một đoạn thơ, đã cho chúng ta hồi tưởng lại một đoạn đời. Ngày đó trong chúng ta, có ai nhận một cuộc điện thoại như vậy không? Theo tôi nghĩ đơn giản ắt là phải có, nhưng ngày đó chúng ta chỉ có bùi ngùi. Chớ làm sao hình dung ra được người em gái báo hung tin, đang cầm cái máy điện thoại gọi nhờ ở Ty Bưu Điện nào đó mà rưng rưng hai dòng lệ. Vậy mà hôm nay, khi đọc tới đoạn thơ nầy. Tôi đã hình dung ra cách nay không bao lâu, tôi đã hai lần nhận được một cú điện thoại có nội dung như vậy. Nhưng tôi chưa có được cảm xúc đau đớn như lúc nầy, mà tôi chỉ lo đi gởi tiền về để lo làm đám ma chay. Với dắt vợ con đi vô ngôi chùa Thiên Ấn ở Canleyvale làm lễ cầu siêu tụng niệm. Thế mà hôm nay, trong lúc ngồi viết bài nầy. Tôi lại hình dung ra Má tôi, mỗi chiều đang ngồi tựa cửa bên nhà, phía sau là con rạch Cả Muồng đang cuồn cuộn chảy, để nhớ đến tôi. Một đứa con đang trôi giạt phương xa, đói no ấm lạnh chỉ một mình, không có mẹ một bên để cùng chia xẻ. Tôi cám ơn Đoàn Xuân Thu, đã dắt tôi về lại bến đó xưa. Bến phà Rạch Miễu – Mỹ Tho với bước chân trần, của những người mẹ chân đất, trên vai nặng oằn một gánh chuối, gánh khoai. Ôi những bà mẹ một đời đội sương, đội nắng để nuôi con ăn học nên người.


________________________________________________________________________________________________________________
a1-2yenlabusinesscard27


About this entry