LÊ CẦN THƠ

lct_thtcoverw300h461NHÀ VĂN
TRẦN HOÀI THƯ

THỦ ĐỨC
GỌI TA VỀ

_.______________________________________
TRẦN NGUYỄN

(cựu SVSQTB Thủ Đức khoá 568)
(lược đọc)
Tháng 2/2001, Thư Ấn Quán đã xuất bản tập THỦ ĐỨC GỌI TA VỀ, tác phẩm thứ 13 của nhà văn quân đội Trần Hoài Thư. Tập sách dầy 158 trang với 13 bài viết chọn lọc mà tác giả đã dành biết bao tình cảm để lý giải về “ngôi trường lính”, về tác phong đạo đức, về tình chiến hữu, tình đồng đội, về sĩ khí của một sĩ quan Thủ Đức, về những tình cảm sáng trong của mỗi người lính trong cuộc chiến đầy oan khiên và máu lệ. Mười ba tựa bài đã nhắc nhở trong mỗi cựu SVSQ xuất thân từ trường Thủ Đức có thể hình dung được: Tội nghiệp những cây mạ của vùng Trà Tiên, May mà ta có em, Viết từ đồi Tăng Nhơn Phú, Đêm di hành đầu tiên, Nguyệt san Bộ Binh, Đêm alpha, Cám ơn Thủ Đức, Thủ Đức gọi ta về, Thư về người đàn anh Thủ Đức, Những người muôn năm cũ, Một bài thơ được viết, Ngày cuối cùng với Thủ Đức, Nén hương cho người Thủ Đức.
Để nói về niềm tự hào của một sĩ quan xuất thân từ trường Thủ Đức, Trần Hoài Thư viết: “Chúng tôi là những người tốt nghiệp từ Thủ Đức, một quân trường đào tạo trung đội trưởng bộ binh trong vòng chín tháng. Nó là nơi mà một ngài cựu đại tá tâm sự là sợ phải đâm lưỡi lê vào tim người nên không dám đầu quân vào bộ binh. “Đầu tiên, tôi được lệnh đi khoá Một Nam Định. Nhưng nghĩ lại cái cảnh phải mang súng trường gắn lưỡi lê đâm vào tim người dù là hình nhân đi nữa, tôi phát sợ. Cuối cùng tôi đầu quân vào đơn vị khác. Dầu là hiện dịch, nhưng chắc ăn”. Nó cũng là nơi mà một cựu thiếu tá phải thú thật rằng, lý do ông không vào Thủ Đức bởi vì ông sợ chết… Thủ Đức chết nhiều quá…
“Vị đại tá kia có lý của ông. Bởi tâm ông là tâm hiền. Không thể bắt ông cầm súng gắn lưỡi lê để đâm vào tim người được. Cũng như vị thiếu tá kia. Ông đã dám nói thật. Thật về cái ý nghĩ, tâm trạng thầm kín nhất giữa lúc người ta không dám nói.
“ Và đó là lý do chúng tôi phải tự hào thêm một lần nữa. Chúng tôi đã chấp nhận đến một quân trường mà hai ông sĩ quan cấp tá đã sợ và tìm cách xa lánh. Nó là nơi mà chúng tôi, những người cùng chung số phận, chung một định mệnh, đã nương tựa lẫn nhau, đã chia xẻ cùng nhau cái nghiệp của người thanh niên trong thời loạn.
“ Nhưng ai có thể dám nói rằng, những thầy giáo, những kỹ sư, sinh viên hay những kẻ thi rớt tú tài 2 là những kẻ khi đánh giặc thì ở đàng sau, khi tan hàng thì chạy trước? Xin hãy đọc giùm những hàng sau đây viết về ngày cuối cùng ở trường Bộ Binh Thủ Đức để hiểu rõ hơn:
“… Chiếc T54 bắn một hồi rồi di chuyển về phía cổng số 9. Nhưng cổng này đã bị 4 chiếc xe đậu chặn ngang đường. Nó lại chạy ra cổng số 1. “Nó chạy ra kìa”. Một sinh viên sĩ quan la lên. Các tổ M72 thi nhau nhả đạn. Chiếc chiến xa T54 lần này cũng may mắn không bị cháy nhưng bị đứt xích, nó cố gắng lết ra đến Niệm Phật Đường Quảng Đức Chợ Nhỏ quay pháo tháp vào trong trường và nhả đạn như mưa.
“Trước tình hình nan giải này, hai khoá sinh chưa được gắn cấp hiệu alpha, đã tình nguyện mỗi người mang 4 trái lựu đạn lân tinh bò ra tiêu diệt chiến xa địch. Họ đã bò qua mấy đường hẻm ở Chợ Nhỏ tiến về phía sau Niệm Phật Đường. Bỗng một quả cầu lửa nổ tung, tiếng nổ long trời, một cột khói đen hừng hực bốc lên như hàng chục trái mìn chống chiến xa cùng nổ một lúc. Tiếng reo hò vang lên từ những vị trí phòng thủ: “Chiến xa cháy rồi. Nó cháy rồi”. (trích Ngày Cuối Cùng tại trường Sĩ Quan Thủ Đức của Minh Tân Lê Quảng Trị, báo KBC số 22).[TĐGTV từ trang 38 – 41]
Nói về “ngôi trường lính”, Trần Hoài Thư đã viết:

lct_tranhoaithuw300h364 “Nhưng với một ngôi trường chiến tranh, kỷ niệm chỉ là những mồ hôi gian khổ, những khối nặng mang trên mình thì có gì để mà nhắc nhở. Không phải vậy. Phải nhớ. Nhớ bởi vì, nó khởi đầu cho một cái nhìn khác, suy nghĩ khác. Ta đã từng cầm súng gác đêm tại lô cốt số 6. Đêm nay hết một năm. Lại gác đêm giao thừa. Quê hương chừng rét lắm. Lất phất dưới làn mưa… Bây giờ ta mới thấm thía được ý nghĩa của những câu thơ mà ta không nhớ hết. Thời còn dân sự, ta chỉ biết thưởng ngoạn nó, nhưng không cảm nhận nó. Bây giờ ta đang ở trong cuộc, ta cũng cầm súng canh gác, trời cũng lất phất mưa. Quê hương chừng rét lắm. Tâm hồn ta bỗng nhiên lớn hơn, bao la hơn. Ta bay bổng khắp quê hương. Ta như người phi công trong một chuyến bay đêm, hãnh diện nhìn quả đất. Bây giờ ta mới hiểu tại sao người thơ lại dùng chữ lại, thay vì chữ được. Được mang ý nghĩa của niềm hãnh diện. Lại có ý nghĩa là sự bắt buộc, là phải tuân hành. Nhưng tuân hành không phải là không làm tròn nhiệm vụ. Có lẽ quân đội chỉ cần người tuân hành. Bởi thế kỷ luật là sức mạnh, người ta luôn luôn nhắc nhở như thế. Nhưng tuân hành không phải để trở thành nô bộc. Người ta không thể lạm dụng hai chữ kỷ luật để bắt buộc thuộc cấp trở thành nô lệ, nô bộc. Sau này tôi đã hiểu rõ hơn về cái lạm dụng này. Khi người sinh viên chúng tôi được lệnh phải đánh giày thật bóng, xếp drap xếp mền thật kỹ, dọn tủ quần áo thật ngăn nắp, có nghĩa là chúng tôi được học bài học là một người sĩ quan, trước hết anh phải làm gương cho kẻ khác. Anh phải dấn thân trước hết. Làm sao tôi có thể biết là ngoài thực tế, có một vài đơn vị trưởng được xem như ông vua nhỏ. Ngay cả một trung đội trưởng với cấp số trên dưới hai mươi người, còn được cấp một người mang gạo, nấu ăn, chẳng khác một người hầu không công, huống hồ đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng. Chẳng những cho các ông mà còn cho vợ con các ông nữa. Thiên hạ sợ các ông, bởi vì dưới trướng của ông là súng ống, và binh sĩ, là đám cận vệ luôn luôn chứng tỏ trung thành tuyệt đối. Làm sao tôi biết, những người hầu kia, đã từng bị cấp chỉ huy bạt tai, đá đít vì đã quên đánh giày, giặt tất cho ông thầy hay để xe các ông bị dơ bẩn. Làm sao tôi có thể hiểu khi trường lính huấn luyện tôi phải một mình tự lực vươn lên, đừng bê tha cẩu thả, thì ngoài đơn vị, tôi trở thành thầy chủ. Con người sinh ra đều được bình đẳng. Không thể có tớ có thầy. Có phải vậy không?
“Chúng tôi đã được huấn luyện để làm quen với cam khổ. Từ cam khổ con người mới hiểu được cái cam khổ của người khác. Chúng tôi đã được huấn luyện để hiểu thế nào là sức mạnh của kỷ luật. Từ kỷ luật chúng tôi mới có thể làm kẻ lãnh đạo chỉ huy. Nhưng trên thực tế, kỷ luật là con dao hai lưỡi. Nó tạo nên độc tài, độc tôn. Nó không cho phép kẻ cấp dưới được quyền nói lên tiếng nói. Nó dùng lon cấp để ra lệnh, mà người thuộc cấp không cần biết cái lệnh ấy hợp lý hay không hợp lý, đúng hoặc sai. Ta phải nhắm mắt.
“Nhưng người Thủ Đức không phải chỉ biết nhắm mắt trong mọi trường hợp. Như trường hợp sau đây của một chuẩn uý khi anh yêu cầu Đại Bàng tản thương người chết và người bị thương ra khỏi vùng để rồi sau đó nhận được những lời của vị chỉ huy mặt trận:

“… Tôi cầm tay Thảo. Cả tay chân anh mềm nhũn, hai mắt thâm đen và anh cũng không còn thấy được nữa. Hơi thở thoi thóp, miệng lắp bắp: “Thái ơi, Thái ơi ba chết!”. Tôi lắc khẽ vai anh. “Thảo, Viện đây. Anh không sao đâu, trực thăng sẽ đưa anh về quân y viện ngay. Cố gắng lên!”. “Thái ơi, Thái ơi! Ba chết!”. Thảo cứ gọi tên đứa con trai mà anh cưng nhất của mình, hơi thở mõn dần, và anh đã trút hơi thở sau cùng lúc 10 giờ 15 phút sáng ngày 01 tháng 3 năm 1970.
“Thảo chết, Trung sĩ Trai bị thương với 4 người lính khác. Tôi báo ngay về trung tâm chỉ huy hành quân tại chi khu và yêu cầu phương tiện tản thương. Bạch Hổ bảo đã báo tiểu khu và chờ. Mặt khác, lại ra lệnh:
“ – Đại Bàng chỉ định Victor (Viện) quyền Dzũng Chinh, điều động các đứa con tiến chiếm các mục tiêu còn lại. Để một chấm (tiểu đội) ở lại trông chừng số “kilô” (người chết), “whisky” (người bị thương).
“Tôi trả lời qua máy là, không đồng ý bỏ lại dọc đường Dzũng Chinh và mấy đứa con bị thương, bởi em út họ không chịu đi nếu như việc tản thương không được thực hiện nhanh chóng. Bạch Hổ thông báo với Đại Bàng. Ông Đại Bàng bay lên vùng, và liên lạc thẳng với tôi:
“ – Đ.M., tôi ra lệnh cho Dzũng Chinh phải tiến quân. Đ.M. cứ bỏ thằng “kilo” (người chết), với đám “whisky” (người bị thương) lại đó sẽ có chuồn chuồn đến bốc. Bây giờ đám diều hâu đã vỗ cánh lên vùng, tất cả ưu tiên cho “Delta Quebec” (đổ quân)… ĐM. Chú thi hành hay không? Đ.M. tôi đưa ra toà án mặt trận bây giờ.
“Tôi nóng ran cả mặt. Một tư lệnh cuộc hành quân mà giải quyết sự việc với những tính toán và ngôn ngữ như vậy khiến tôi bất bình, và chẳng hiểu xuất phát từ đâu, tôi đã nói qua máy:
“ – Đ.M Đại Bàng chớ Đại Bàng đừng Đ.M tôi như vậy. Ông muốn gì tôi thách ông đó. Bây giờ tôi nói dứt khoát với ông, tôi không đi cho đến khi nào có chuồn chuồn đến bốc Dzũng Chinh và mấy đứa con của tôi…

“Trên đây là một đoạn trong hồiĐiếu thuốc sau cùng của Lê Cần Thơ được đi trong đặc san Thủ Đức. Chúng tôi xin được trích lại để chứng minh về sĩ khí của kẻ sĩ cùng tinh thần đồng đội của người lính VNCH nói chung cũng như người sĩ quan Thủ Đức nói riêng. Tại sao viên chuẩn uý của chúng ta lại có thái độ ngang ngược như vậy. Tại sao anh lại bày tỏ thái độ bất chấp như vậy. Bởi vì anh không thể bỏ rơi đại đội trưởng của anh và những người lính của anh. Họ phải được cứu sống. Họ phải được đền bù sau khi họ đã hy sinh tất cả. Có lẽ bản chất của viên trung tá kia là người thô lỗ, nhưng không phải vì thế mà quên đi cái tình chiến hữu, đồng đội mà ông lẽ ra phải làm gương. Nếu như không có chiếc trực thăng xa lạ nào đó bay qua, thương tình đáp xuống để cứu độ thì có lẽ một hai mạng người sẽ kết thúc vì máu mất quá nhiều. Rõ ràng ông ta đã dùng oai quyền và lạm dụng oai quyền. Nhưng ông đã lầm. Ông không hiểu con tim của chúng tôi, những người sĩ quan trẻ tốt nghiệp từ quân trường Thủ Đức.
“Con tim ấy tha thiết lắm. Nó đau cái đau của đồng đội. Nó hạnh phúc cái hạnh phúc của đồng đội. Nó làm tiểu đội, trung đội trở thành một mái nhà. Con tim ấy đã khiến người chuẩn uý khác dám bắn đàn bò của tư lệnh vùng, bởi vì anh thấy lính của anh gian khổ quá, đói rách quá:
Ngày N cộng sáu
quân lui về Nghĩa Hưng
áo quần đầy hương máu
tóc râu đầy hương rừng.  

Đang đi, lệnh: đóng chốt
lập vòng đai an toàn
cho đại đội trừ bị
lùa bò cho tướng Toàn.

Bò mập lông vàng thẫm
rộn rịp tập xếp hàng
lính than thèm thịt quá
nổi máu, ta bắn càn.

Lon guigoz đầy giấm
củi rừng bắt lửa nhanh
miệng nhai lòng chảy máu
tự rủa mình gian manh.

Tướng Toàn không ký phạt
nhưng ta chẳng tha ta
một tuần không ăn thịt
không làm thơ ngắm hoa
(Luân Hoán)
“Đó là lý do tại sao chúng tôi hãnh diện. Với quê hương, chúng tôi đã mang trọn vẹn trái tim của chúng tôi để dâng hiến. Với đồng đội chúng tôi đã sống và chết hết lòng. Ngay cả đối với những người có liên hệ với hàng ngũ bên kia, trái tim chúng tôi vẫn nẩy nở lòng thương hơn là thù hận. Chúng tôi khác với đối phương, thay vì họ được nhồi sọ bởi Bác, Đảng, còn chúng tôi được học từ Chúa và Phật…” [ TĐGTV từ trang 59 – 67].
Xuyên suốt tập THỦ ĐỨC GỌI TA VỀ, vẫn lối văn thuật chuyện rất gần gũi thân quen, anh đã để cái tình đồng đội, cái tình con người vượt lên tất cả. Cái tình đó, ít nhất đã được un đúc trong con người một nhà giáo trước khi động viên vào lính do tình hình chiến sự ngày càng gia tăng ở miền Nam. Anh viết:
“Đồi Tăng Nhơn Phú hay đồi 4100. Ai mang ta đến chốn này? Ai mang cả ngàn người cho mỗi khoá. Năm ấy, 1967, chiến tranh đã đến hồi cao điểm. Quân số Mỹ đã lên gần con số 500.000. Năm ấy, tháng giêng ngày 6, 16 ngàn quân Mỹ và 14 ngàn quân VNCH đồng tấn công vùng Tam Giác Sắt, một mật khu bất khả xâm phạm của quân Cộng Sản. Ngày 29 tháng giêng, trực thăng Mỹ bắn lầm, giết 32 thường dân. Ngày 15 tháng 2, 13 trực thăng Mỹ bị bắn rơi trong một ngày. Ngày 14 tháng 4, tại Mỹ 10 ngàn người biểu tình chống chiến tranh VN. 20 tháng tư, 20 phản lực Mỹ lần đầu tiên dội bom Hải Phòng. 19 tháng 5 máy bay Mỹ lần đầu tiên oanh tạc Hà Nội. 30 tháng tháng 7, thống tướng Westmoreland tuyên bố sẽ chiến thắng nếu có thêm quân. Ngày 23 tháng 9, Nga ký thoả ước viện trợ giúp đỡ tối đa Hà Nội. Ngày 26 tháng 9, Hà Nội bác bỏ đề nghị hoà bình của Hoa Kỳ… Năm ấy, 1967. Năm mà những khí giới tối tân nhất của Mỹ, của Nga, Tàu được chuyển về miền nam, trong khi người lính miền Nam vẫn còn thừa hưởng những khẩu súng trường bắn từng phát một từ đệ nhị thế chiến và đa số các tướng lãnh xuất thân từ quân đội Pháp. Năm mà những đứa học trò hay sinh viên ngồi trong lớp học hay giảng đường, thay vì chú tâm vào sách vở kiến thức thì phải nghĩ đến một hai thằng bạn thân đã tử trận. Năm mà cái chết không chừa một ai… [TĐGTV từ trang 24 – 26].
Để rồi trong bài Ngày cuối cùng với Thủ Đức, Trần Hoài Thư có đoạn đã viết:
“Đêm cuối cùng bồng súng đứng trước Trung Nghĩa Đài. Hai người một ca. Găng tay trắng. Dây biểu chương. Chiếc nón cát két chụp xuống mắt. Quai nón vòng quanh cằm. Đèn sáng thấy hình người sinh viên sĩ quan bắn cung. Tại sao ta lại muốn khóc. Không kèn, không trống, không điếu văn, không chiêu hồn tử sĩ. Chỉ có gió đêm. Gió của mùa hè năm 1967. Gió giữa vùng đồi lửa cát. Hồn tử sĩ gió ù ù thổi. Những người đàn anh của ta. Họ cũng đã một lần bồng súng đứng nghiêm như ta. Đêm mùa hè, trời trong, càng về đêm trời càng sao sáng. Ta đang đứng nghiêm nhưng con tim ta thì đang gọi. Hỡi người đàn anh, xin phù hộ cho người đàn em này. Gió càng về khuya càng lạnh. Cả một quân trường đang ngủ. Không, có những kẻ đang thức. Như ta, như khoá đàn em của ta.
“Bởi vì họ thật sự gánh thế những tai ương mới. Họ không được may mắn. Và Trung Nghĩa Đài này, không phải được dành ra để tưởng niệm khoá đàn anh, mà cả khoá đàn em của ta. 5 sinh viên sĩ quan khoá 25 đã chết vì bị mìn sau khi rời khỏi cổng số 9 chỉ cách đây không lâu.
“Đêm cuối cùng, có ta là đứng canh cho người đã khuất. Trên bầu trời đen tối, giữa muôn vàn tinh tú kia, thỉnh thoảng một vài vì sao băng. Từ một chấm nào giữa cõi bao la, vì sao bỗng xẹt nhanh, từ đông sang tây từ nam qua bắc, từ cao xuống thấp. Hay là lúc này có những người đàn anh của ta đã tử trận, và linh hồn của họ đã rời khỏi vì sao định mệnh của họ rồi.
Ngày cuối cùng, nhét tờ sự vụ lệnh vào túi áo. Đại đội 405 thám kích Sư đoàn 22 BB… [TĐGTV từ trang 135 – 136].
Đúng như vậy, người chuẩn uý vừa mới ra trường khoá 24 Thủ Đức ấy đã về đơn vị đầu tiên giữ chức vụ Trung đội trưởng thám kích thuộc đại đội 405, Sư đoàn 22BB như phần tóm lược về mình ghi ở trang bìa 4 cuốn sách:
“Trần Hoài Thư sinh tại Đà Lạt. Học Quốc Học Huế, Đại Học Huế và Sài Gòn. Động viên khoá 24 Thủ Đức. Giải thưởng sinh viên sĩ quan báo chí xuất sắc của khoá. Trung đội trưởng thám kích. Bị thương trận 3 lần. Bốn năm trong trại lao nhục. Cử nhâhn điện toán và Cao Học Toán. Hiện là chuyên viên điện toán của IBM… (…)”.
Và tại bìa sau của một cuốn sách khác, tập Thơ QUÁN do Thư Ấn Quán ấn hành năm 2008 đã ghi:
“Trần Hoài Thư sinh 1942 tại Đà Lạt. Động viên khoá 24 Thủ Đức, phục vụ đại đội thám kích SĐ 22 BB từ năm 1967. Bị thương 3 lần. Từ 4-1975, sau bốn ăm tù tội tại rừng khổ sai Trà Tiên, ông được thả về và mưu sinh bằng nghề bán cà rem dạo. Năm 1980, vượt biển và đến Hoa Kỳ. Ông trở lại trường, tốt nghiệp đại học với BS in Computer Sciences và MS in Applied Math. Và làm việc cho AT & T và IBM cho đến ngày về hưu. Trước năm 1975, ông có 4 tác phẩm truyện ngắn được xuất bản. Sau 1990, ông viết trở lại, và cho ra đời thêm 16 tác phẩm, trong đó có 7 tập thơ. Riêng thơ của ông thường xuất hiện trên Bách Khoa, Văn, Khởi Hành (trước 1975), và một vài tạp chí văn học ở hải ngoại sau 1975. Hiện tại ông chủ trương tạp chí Thư Quán Bản Thảo, cơ sở Thư Ấn Quán, và Tủ sách Di Sản văn chương miền Nam.
Địa chỉ liên lạc: Thư Ấn Quán:
P.O.Box 58 South Brook, NJ 08880 USA.

Email: tranhoaithu@verizon.net.”
Cảm ơn nhà văn Trần Hoài Thư – một cựu SVSQ khoá 24 Thủ Đức, một người con xuất thân từ trường Bộ Binh Thủ Đức và trong lòng lúc nào cũng nghe lời thôi thúc để anh viết nên tác phẩm để đời: THỦ ĐỨC GỌI TA VỀ, mà trong bài viết nầy, tôi đã trích dẫn rất nhiều đoạn văn anh đã viết (đặt trong ngoặc kép). Nghĩ rằng anh cũng vui lòng cho tôi được trích dẫn nhiều như vậy mới nêu bật được ngôn ngữ tròn vẹn của anh, để giới thiệu trên đặc san của cựu SVSQ khoá 5-68, một khoá đàn em của anh với 1752 SVSQ khắp bốn vùng chiến thuật vào trường Bộ Binh Thủ Đức theo lệnh Tổng Động Viên sau Tết Mậu Thân 1968.
Houston, 20 tháng 5 năm 2009

TRẦN NGUYỄN
(cựu SVSQ/TB Thủ Đức – khoá 5/68)
lct_anhtranhoaithuluuniem
Ảnh lưu niệm:
Một thời lang bạt (từ trái sang phải): Phạm Ngọc Lư, Trần Hoài Thư, Nguyễn Lệ Uyên, Phạm Văn Nhàn.
(nguồn: phụ bản trong tuyển thơ Ô CỬA của Trần Hoài Thư – Thư Ấn Quán 2004)
2j2vvqs2
961211079201112 yenlabusinesscard211-300x17112

 


About this entry