NHỮNG NGÀY………
NHỮNG
NGÀY MƯA
QUÊ TÔI

LÊ CẦN THƠ
(Houston, Texas USA)
Tôi sống được hơn hai năm rưỡi tại Houston, Texas, Hoa Kỳ. Tôi cũng đã từng chứng kiến những cơn mưa, những ngày mưa trên đất nước nầy. Vẫn là những cơn dông lớn. Vẫn là những tia sấm chớp kinh hồn. Vẫn là những trận mưa rào xối xả, nước đổ mù mịt làm thu hẹp tầm nhìn khi lái xe. Vẫn là những ngày mưa dai dẳng với bầu trời u ám đến buồn tẻ. Có điều, những dự báo thời tiết trên hệ thống truyền thông (truyền hình và phát thanh) tương đối chính xác hơn ở quê nhà, nên ngày mưa với tỷ lệ bao nhiêu phần trăm đã giúp cho mọi người chuẩn bị được tinh thần khi phải di chuyển khỏi nhà. Mưa là hiện tượng chung của thiên nhiên mà ở nơi đâu trên trái đất nầy cũng có, khác nhau là do sự cảm nhận của tâm trạng mỗi người vào chính thời điểm có mưa. Thi sĩ Nguyễn Bính đã từng viết “Nắng mưa là bệnh của trời..”. Dù hiểu như vậy, nhưng với riêng mình, tôi cảm thấy mưa ở xứ sở Hoa Kỳ giống như tốc độ công nghiệp của đất nước văn minh, chạy đua theo nhịp sống để cái ăn cái mặc và mọi tiện nghi sinh hoạt thường ngày luôn đủ đầy, nên rất ít ai có thời gian nhàn rỗi ngồi nhìn mưa rồi suy gẫm chuyện đời. Tôi cũng không còn có thời gian yên ả ngồi nhìn mưa, hay dầm mưa để làm một chuyện gì, vì công việc hằng ngày để tìm sống không có thời gian và môi trường thuận lợi cho tôi chiêm ngưỡng ý nghĩa của từng cơn mưa ở đây. Ðêm đêm ngủ trong phòng của apartment kín mít, tôi cũng không còn có dịp nghe tiếng mưa trút nước như thác đổ ngoài trời hay nghe từng giọt mưa rơi tí tách bên hiên nhà. Cho nên, tôi chỉ còn sống trong ký ức mình bằng chuỗi dài kỷ niệm đối với mưa – nói tới kỷ niệm là nói đến thời thơ ấu, vì chỉ thời thơ ấu mới có nhiều ấn tượng đậm sâu mà tuổi về chiều người ta ai cũng có lần lặng thầm nhớ lại. Nhà thơ Phùng Quán đã viết về tuổi thơ của mình với tác phẩm có độ dầy đáng kể, gồm ba tập sách mang tựa TUỔI THƠ DỮ DỘI rất được nhiều bạn đọc trong nước yêu thích.
Tuổi thơ của tôi gắn liền với đồng quê ở miền châu thổ Cửu Long, ruộng lúa bạt ngàn, kinh rạch chằng chịt như đan màn lưới, quanh năm nước ngọt chứa đậm phù sa màu mỡ, vườn cây xanh thẫm, từng mùa oằn bông sai trái. Biết bao kỷ niệm buồn vui, nay ngồi nhớ lại với nỗi ngậm ngùi, tiếc nuối. Bởi vì kỷ niệm thời thơ ấu của tôi có hình ảnh quê hương, đất nước… mà cũng có con người, nói chung là gắn liền với tự tình dân tộc. Vừa qua, do cuộc chiến dai dẳng mấy mươi năm trên đất nước đã tạo ra thảm trạng đau lòng : Bạn bè cùng lớp tuổi với tôi, có chung kỷ niệm tuổi thơ, mà vì hoàn cảnh đã phải chia làm hai phía đối kháng, cầm súng thật để bắn giết nhau, tưởng chừng trải qua một giấc mơ kinh hoàng; giống như ngày xưa chúng tôi chơi trò chia phe đánh trận giả bằng súng ống thụt (bắn bằng trái bố hay trái sắn). Sau ngày 30-4-1975, quê tôi đã có nhiều bàn thờ để thắp nhang tưởng nhớ những người đã chết cho cả hai bên quốc gia và cộng sản. Người chết yên phận, nhưng người sống đã ngầm có sự cách chia cảm nghĩ khó mà hàn gắn như xưa, bởi ý thức hệ và mặc cảm mất mát trong mỗi gia đình. Ðau lòng hơn là cùng một gia đình lại diễn ra tấn thảm kịch bi thương: gia đình hai người bạn học chung lớp với tôi, mãi sau nầy tôi mới nghe kể lại. Người anh là Ðỗ Thành Tây, đi pháo binh, làm sĩ quan tiền sát viên cho một đơn vị thuộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh. Lần đó đóng quân ở Kinh Cùng (thuộc địa bàn tỉnh Chương Thiện), khẩu đội pháo của anh Tây hướng nòng súng vào khu Nhà Máy Cháy (tức căn cứ Phương Bình mà cấp tỉnh ủy đang trú đóng và hoạt động). Những trái đạn pháo binh được Thiếu Úy Ðỗ Thành Tây trực tiếp chỉ huy khẩu đội bắn vào đơn vị đối phương… lại chính là đơn vị của đứa em ruột của mình là Ðỗ Văn Bảy, tức Ðỗ Quang Trung, lúc đó là Tiểu Ðoàn Trưởng. Bảy Trung là Tiểu Ðoàn Trưởng trẻ nhất của khu Tây nam Bộ và từng đối đầu cả tuần lễ với Tiểu Ðoàn Trưởng BÐQ. Lưu Trọng Kiệt ở khu Bà Ðầm, Thác Lác. Hôm đó, bà mẹ lặn lội vào thăm con mình trong vùng sâu, được Bảy đưa ra một khoảng cho bà quá giang xuồng về Cần Thơ qua ngã Kinh Cùng. Tới Kinh Cùng gặp thằng con trai lớn đang hướng pháo binh bắn vào em nó, bà mẹ chỉ lặng khóc mà không thể nói được gì. Sau ngày 30-4-75, Bảy Trung về thăm gia đình, gặp anh mình trước khi có lệnh gọi các sĩ quan và viên chức làm việc cho chính quyền Sài Gòn tập trung cải tạo. Hai anh em tranh luận nhau thế nào mà Tây đã tự sát. Bảy sau nầy chuyển ngành làm Phó Giám Ðốc một công ty Kinh doanh Vật liệu Xây dựng của tỉnh Cần Thơ… Niềm đau nầy, chính bà mẹ của hai người bạn cùng lớp với tôi gánh chịu cho đến lúc bà nhắm mắt xuôi tay! Sau cuộc chiến, còn nhiều thảm kịch đau lòng đó diễn ra trên quê hương tôi, nói riêng, nghĩ rằng khắp cả miền Nam chắc cũng khó tránh được nỗi đau buốt xé đó !
Tôi âm thầm rời bỏ quê hương chỉ vì không thể tiếp tục ở lại để sống trong nỗi buồn khó giải tỏa tương tự như thế đối với xung quanh. Bây giờ, nơi xứ lạ quê người – chỗ nương thân cuối đời mình – tôi vẫn không sao quên được hình ảnh thân tình của quê hương, nơi đó tôi được sinh ra và lớn lên…, nơi có những sinh hoạt thường ngày nhưng khó nhạt phai trong ký ức mình.
NGÀY MƯA RỦ NHAU ÐI LƯỢM TRÁI RỤNG
Ở quê tôi, trước mỗi trận mưa lớn, thường có gió hoặc dông. Gió dông làm cho nhiều cây trái treo lủng lẳng trên cành phải bị đung đưa và một số rơi rụng như xoài và cóc. Chúng tôi thường rủ nhau đi lượm các trái rụng nầy. Thuở tuổi lên chín lên mười, những chuyện giành giựt nhau để chụp được một trái rụng vào tay mình là chuyện bình thường, chớ không phải là điều đáng phê phán. Người lớn cũng không khắt khe gì với chúng tôi, chẳng may có chuyện xô xát lẫn nhau khi tranh giành lượm trái rụng. Thường thì đang khi gió hoặc dông, chúng tôi năm ba đứa đứng chờ sẵn dưới gốc. Nghe tiếng bịch ở đâu đó, là cả nhóm ào tới, dù chính mắt mình có nhìn thấy hay không. Nếu cả nhóm cùng thấy thì cảnh chen lấn nhau thật kỳ thú, ngoạn mục. Dĩ nhiên ai mạnh và lanh lẹ thì người ấy nắm phần chắc là trái rụng thuộc về mình. Chúng tôi cũng cãi lý với nhau để anh em có mặt cùng phân xử đúng sai khi người được đã thật sự cướp công người khác! Thường thì xoài, cóc rụng lúc còn sống, trái còn cứng. Có khi trái vừa rụng xuống đất, chúng tôi bu nhau giành lượm thì lại có một trái khác rụng tiếp, trúng ngay đầu hay lưng của một người nào, thành thử chúng tôi ngã lăn ra như đàn ong vỡ tổ, ai đứng ngoài nhìn vào chắc không thể nín cười được. Ðặc biệt, khi mưa to trút nước mà xen vào đó có những đợt dông, trái rụng càng nhiều, chúng tôi mặc sức xô nhau để lượm, mình mẩy lấm lem bùn đất, vậy mà đứa nào cũng vui đùa thỏa thích. Có lẽ do vậy mà sau mỗi trận mưa, lúc lũ kiến vàng đã chui vào tổ tránh mưa, các lái buôn đi mua xoài hay cóc trèo lên nhánh dùng lồng bẻ trái đi bán. Họ cũng rắc tro bếp lên cành quanh chỗ đứng để lũ kiến vàng khi bị động tủa ra khỏi tổ không thể cắn họ được. Họ hái xoài hay cóc bằng chiếc lồng cán dài. Chúng tôi bu phía dưới để chờ trái rụng. Thỉnh thoảng, người bẻ trái đứng trên cây chơi trò ghẹo phá chúng tôi, nên anh ta cố tình làm rơi một trái, dưới nầy chúng tôi tranh nhau lượm, thì tiếp theo, phía trên cây, anh ta trút chiếc lồng cho số trái còn lại mặc sức rớt trúng ngay đầu, ngay lưng của bọn trẻ chúng tôi… Rồi xô lấn, rồi la nhau ơi ới… Ðể cho nhóm trẻ bên dưới phân tán ra, có khi anh ta lấy tay ném trái xuống hai ba phía khác nhau … Ðó là những điều đã từng xảy ra cho tuổi thơ chúng tôi tại quê hương mình. Sau nầy lớn lên, cuộc sống ngày càng thay đổi nên những chuyện tôi vừa kể đã ít còn dịp xảy ra nữa. Nhưng nếu bạn là bạn bè lứa tuổi chúng tôi, đã có dịp sống ở miền quê, hẳn có lúc nào đó nhớ lại, sẽ cảm thấy ngậm ngùi luyến tiếc một chút gì cho cuộc đời thoáng qua của mình, nhất là hình ảnh xảy ra trong những ngày mưa.
DẦM MƯA ÐI BẮT KIẾN VÀNG
Nếu bạn có dịp sống ở miền quê tôi những năm cuối thập niên 50 đầu thập niên 60, đó là khoảng thời gian mà người lớn tuổi công nhận là thanh bình, yên ả nhất của đất nước, vì khắp nơi không còn tiếng súng, không còn thấy cảnh bắn giết nhau. Ngay cả vấn đề giao thông, xe cộ đi lại từ tỉnh nầy sang tỉnh kia, nhất là từ lục tỉnh về Sài Gòn, xe chạy suốt đêm, không gặp cảnh đường bị đấp mô, gài mìn, cầu sập, bị chận bắn sẻ dọc đường… Mọi người như cố quên đi những hình ảnh tang thương của chiến tranh do thực dân Pháp thống trị gây ra hàng trăm năm trên đất nước, mà ai ai cũng ra sức làm việc để tạo lại cuộc đời tự do no ấm. Miền đất quê tôi ngoài việc nông dân ngày ngày chăm lo việc sản xuất lúa gạo trên cánh đồng bạt ngàn, cò bay thẳng cánh…, mà còn sửa sang làm lại vườn tược, trồng giống quít đặc sản của địa phương mình (những năm đó rất ít người trồng cam). Quít được nhân giống rất nhanh chóng nên chỉ một vài năm, vườn nào cũng trồng thẳng tắp những hàng cây quít cành lá xanh um. Quít trồng trên các bờ đôi, cành nhánh toả ra của cây nầy vừa chạm cây kia hoặc cách nhau vài tấc để ánh nắng có thể rọi xuyên qua khoảng đất dưới gốc cho thoáng, đồng thời giữ được độ ẩm để cây phát triển. Hằng năm, thường sau Tết Nguyên đán, người ta vét mương bồi lớp bùn non lên mặt bờ và gốc quít, để khi có dông gió lớn không ảnh hưởng đến sự lung lay của cây có thể làm chúng mất sức, bị trốc gốc hoặc những trận mưa trút xuống, nước không bào mòn lớp đất bên trên khiến cho các rễ con nhô lên không thể hút lấy chất bổ dưỡng nuôi cây được. Mùa mưa xuống cũng là mùa cây quít bắt đầu trổ hoa để theo thời gian sau đó, chúng tượng trái, nuôi dưỡng trái đến tháng chín, tháng mười âm lịch có thể hái bán. Những tháng nầy nước sông rạch chỉ lềnh bềnh chớ không rút cạn như mùa khô. Các ghe của thương lái lui tới tấp nập để mua quít, nếu thoả thuận được giá cả, họ hái rồi chở đi giao cho các vựa lớn ở tỉnh, đặc biệt là chở về khu vực chợ Cầu Ông Lãnh (Sài Gòn). Có một số chủ vườn tư mướn ghe rồi hái quít nhà của mình chở lên tận Sài Gòn để bán, chủ yếu là làm quen các chủ vựa để hy vọng mùa quít năm sau sẽ chuyển lên cho họ nữa. Chủ vườn và chủ vựa quen nhau sẽ tránh được nạn mua bán trung gian, mất lợi cho cả hai bên.
Trồng quít vào những năm đó tuy có cực vì thiếu nhiều phương tiện, như không sử dụng phân hoá học bón cho cây, không có máy bơm nước để tưới thúc cho cây vào thời gian cần thiết để cây trổ bông. Nhớ lúc đó, hằng đêm, mấy anh em chúng tôi thức chờ con nước lớn đầy các mương thì cùng nhau lấy gàu tát nước lên bờ (lúc quít chưa trổ bông thì tưới vãi lên ướt các cành lá; khi quít trổ bông rộ lên thì chỉ tưới ướt thân cây và ngập ướt các gốc, cả bờ cây. Hôm nào trời mưa thì anh em chúng tôi khỏi tưới. Nhưng khi có mưa lớn thì chúng tôi lại có công việc làm khác, đó là đi bắt kiến vàng.
Tôi cũng không hiểu tại sao trồng quít lại phải nuôi kiến vàng? Bởi kinh nghiệm của người nông dân cho thấy, vườn quít nào có nhiều kiến vàng thì trái quít của vườn ấy to tròn bóng lưỡng, nước nhiều và ngọt; còn thiếu kiến vàng hay không có kiến vàng thì trái quít bị chai cứng, múi bên trong không có nước và quít lại không ngọt. Gặp trường hợp nầy, lái không chịu mua vì bán không được. Do đó, trồng quít còn phải tính tới việc tìm bắt kiến vàng về thả trong vườn rồi nuôi chúng bằng thức ăn. Kiến vàng ăn các loại như ruột, da các loài ếch, nhái, cóc, chuột, cá… (nói chung là các loài có máu). Chúng tôi thường đi bắt cóc nhái hay lấy ruột cá, đầu tôm, ruột da chuột ghim lên các gai hay bỏ vào các miểng gáo dừa trên các nhánh quít cho chúng bu lại ăn. Ðặc biệt chúng tôi không bao giờ dám cho kiến vàng ăn ruột lươn, vì khi ăn phải loại nầy, kiến vàng sẽ mọc cánh bay đi (?).
Bắt kiến vàng thích hợp nhất là ban ngày và ngay trong cơn mưa, vì lúc đó kiến đã gom hết vô các tổ, chúng ta bẻ nguyên tổ đem về nuôi sẽ tiện lợi vô cùng. Khi trời báo hiệu sắp có những trận mưa to, người dân làm vườn quít chuẩn bị dụng cụ đi tìm bắt kiến vàng: đan sẵn những chiếc bội tre lớn (giống như bội nhốt gà nòi để đá độ), để trên xuồng chèo (mỗi xuồng khoảng hai ba bội), lót lá chuối xung quanh. Làm sẵn cần câu liêm và một cây nạng để chỏi nhánh cây có tổ kiến, khi dùng câu liêm giật, phần nhánh cây có tổ kiến sẽ đứt ra. Cây nạng sẽ kẹp phần có tổ kiến rồi bỏ vào bội. Các bội đã đầy tổ kiến mới chèo ghe về vườn thả lên các cây quít. Người đi bắt kiến vàng còn chuẩn bị mang theo tro bếp để rắc lên ván ghe, ngăn cách không cho kiến vàng bò đến chỗ có người ngồi hoặc đứng chèo. Kiến vàng cắn rất đau, bị chúng cắn nhiều có thể đêm về bị nóng lạnh. Kiến sống thành đàn, di chuyển thì con nầy nối đuôi con kia, nhưng khi gặp trời mưa, chúng gom hết vào tổ. Khi bị động, kiến lại chui ra khỏi tổ. Sống trên vườn quít, kiến vàng chuyền từ cây nầy sang cây khác trên những sợi dây chuối hay những cây trúc, nhánh tre được gác từ cành nầy sang nhánh nọ. Cái tối kỵ cho kiến vàng là đừng để loại kiến hôi xuất hiện trong vườn quít đang nuôi kiến vàng. Có thể chỉ một đêm xuất hiện của kiến hôi, lũ kiến vàng dìu dắt nhau đi lánh nạn ở một khu vườn khác !
Ở miền quê tôi, không phải nhà nào cũng có phương tiện ghe xuồng hay bội giỏ có sẵn để đi bắt kiến vàng về nuôi mỗi khi có mưa, do đó phải vần công nhau. Nhà nầy bỏ công đi bắt kiến vàng cho nhà có phương tiện, thì hôm khác nhà có phương tiện lại cùng đi bắt kiến vàng cho nhà kia với hình thức vần công đổi công như làm ruộng, vét mương, bồi bờ, tưới cây… tránh được sự thuê mướn phiền hà. Chính vì vậy mà tình làng nghĩa xóm nơi quê tôi rất đậm sâu, truyền từ đời nầy sang đời khác. Xóm tôi thời đó có những người bạn chơi thân nhau có chung kỷ niệm thời thơ ấu, thế hệ anh tôi có Ba Hoanh, Năm Nghĩa, Tư Thẹo, Chín Lù, Bảy Ðủ, Sáu Lùn, Năm Phát; thế hệ tôi có Bảy Cù, Sáu Già, Năm Vinh, Tư A, Phồi Ðém, Hai Ðen, Sáu Phẩm, v.v… Bây giờ những tuổi tên nầy, hai phần ba đã bị xóa tên trong cõi đời do cuộc chiến đau thương và nghiệt ngã vừa qua cho cả hai bên. Tôi tiếc nhớ bạn bè với nỗi buồn vô hạn. Tôi bâng khuâng với ngút ngàn kỷ niệm làng quê mà chắc rằng trong một đời người khó thể có được lần thư hai gặp lại. Một hôm, qua cửa sổ của xí nghiệp mình đang làm, sau một cơn dông mạnh, tôi thấy mưa ở Houston sao mà mịt mù, trắng xóa. Từng cơn gió, từng hạt mưa hất vào chỗ mình đứng máy, thấy lành lạnh, buồn buồn. Tôi nghe lòng xốn xang và mênh mang cảm xúc, chợt nhiên nhớ lại câu thơ của một người bạn, nhà thơ quá cố Kiều Tâm Khánh của những năm thập niên 60, với câu thơ “Trời mưa mãi cho dài cây số nhớ.” tôi thở dài. Có thể hoà hợp với tâm trạng riêng mình, đúng là, mưa mãi mãi là sẽ dài cây số nhớ trong đời tha hương!
NGÀY MƯA DẬM CÙ BẮT CHUỘT
Ðối với người thành phố trong nước và phần đông người Việt sinh sống khắp nơi trên trái đất nầy không thích hoặc không biết ăn thịt chuột, nhưng đối với dân nông thôn, nhất là dân miệt đồng bằng chúng tôi thì chuột là món ăn khá phổ biến và được nhiều người ưa thích. Nhà văn Vũ Bằng trong tác phẩm THƯƠNG NHƠ MƯỜI HAI đã có bài viết tường tận về thú ăn thịt chuột (là một trong số mười hai cái thương nhớ đó!). Chuột ngon thịt nhất là vào mùa sa mưa, vì lúc đó cỏ non đã mọc lên khắp cánh đồng, và chuột đã ăn cỏ non nên rất mập, nhiều mỡ. Chuột có thể chế biến nhiều thức ăn như chiên tươi, nướng tươi, muối sả, xào sả ớt, xào lá cách hay lá quít, xào mặn với củ hành, hành lá, xào bắp chuối, khìa nước cốt dừa hoặc nấu canh chua (lúc chuột ốm, ít mỡ). Bài viết nầy tôi không mô tả cách chế biến và cách ăn thịt chuột mà chỉ nhắc nhớ đôi nét về việc dậm cù bắt chuột vào ngày mưa ở quê nhà thời tôi còn trẻ mà thôi.
Bắt chuột có nhiều cách: đào hang, gài bẫy (bẫy sập bằng đất để bắt chuột chết, hay bẫy dây chì bắt chuột còn sống, nhận lỗ đặt thùng phuy cho chúng lọt xuống rồi bắt), đuổi bằng xà di, bóng, lọp, soi bằng đèn măng sông, đâm bằng chĩa nhọn hay dậm cù. Các cách bắt chuột trên đây, có thể chúng ta làm một mình, hai, ba người, kèm theo con chó săn biết đánh hơi chuột…, nhưng chỉ có dậm cù là một hình thức tập thể rất vui. Tôi chọn cách nầy để nói chuyện ngày xưa, vì trong đó có lãng vãng hình ảnh thân tình của bè bạn mà trong đời mình khó tìm gặp lại được.
Trước hết, tôi xin mô tả sơ về cách dậm cù (còn gọi là xây cù). Như chúng ta biết, ở đồng ruộng, đất chỗ thấp chỗ cao, nơi mọc cỏ lác, cỏ chỉ, cỏ song chằng, cỏ ống, ô rô, cốc kèn, sậy, đế… Chuột thì lại đào hang để ở. Ban ngày chúng trốn trong hang, ban đêm mới chui ra kiếm ăn. Hang thường được chúng đào dọc theo mé mương, kinh hay mép đìa, cạnh gốc cây, bụi cỏ rậm. Trên ruộng thì chúng đào cặp các giồng đất. Khi trời mưa, có nhiều hang bị ngập nước, chuột không thể ở trong đó được phải chui ra chạy lánh nạn ở chỗ gò đất cao. Chúng có thể gom lên các nơi cỏ nhiều, vừa lánh nạn vừa tìm cái ăn, chờ nước rút mới mò trở lại hang mình. Cho nên, ở miền quê tôi, cứ sau một trận mưa to – mưa càng to lượng nước càng lớn, dễ làm ngập hang cho các gia đình chuột chui hết ra tìm chốn nương thân tạm. Chính các vị trí nầy là chỗ để chúng tôi tấn công lũ chuột bằng hình thức dậm cù hay xây cù.
Chúng tôi kéo nhau một đoàn hàng chục người, chạy hàng dọc, người nọ cách người kia vài thước. Người dẫn đầu nghiên cứu đám cỏ nào có khả năng lũ chuột gom lại, sẽ mở đường chạy một vòng bao tròn. Ban đầu vòng lớn, chạy liên tục, cỏ bị dậm nằm xẹp xuống. Mỗi vòng thu hẹp lại dần. Chuột ở trong bị động, không dám phóng ra mà tự gom vào tận bên trong. Khi vòng vây bị siết chặt thì lũ chuột cuống quít, phóng đại ra đám cỏ bẹp dí, chạy luống cuống mong tìm đường thoát thân. Khi đó, chúng tôi người nào thấy thì nhào tới chụp, chụp con nào dính con đó. Xây cù hay dậm cù có tính tập thể, nhưng bắt được chuột là quyền lợi cá nhân, ai bắt giỏi thì được nhiều, ai bắt dở thì được ít. Mỗi lần đi dậm cù, chúng tôi có thể xây tới hàng chục đám cỏ, và chắc chắn sau một đám mưa như vậy, mỗi người chúng tôi ai cũng có hàng chục chuột để mang về.
Còn nhớ lần đó, Sáu Già vì dáng người nhỏ thấp, lại chụp chuột rất dở, nên khi giải tán ra về, chúng tôi thấy nó buồn thiu. Anh Năm Vinh mới đề nghị tụi tôi mỗi đứa chiết ra một hai con để bỏ vào giỏ cho nó vui. Sáu Già cảm động òa lên khóc ngất như bị má nó đánh đòn. Chúng tôi thấy nó khóc, có đứa lại chọc quê khiến nó càng khóc thấy càng tội nghiệp. Sau lần đó, tôi thấy nó dễ thương, và sau đó đi đâu, làm gì tôi cũng rủ nó đi chung. Chúng tôi xem nhau như anh em, vì nhà nó cách nhà tôi chỉ bằng một con mương ranh, được nối hai nhà lại với nhau bởi cây gòn lớn cỡ bắp chân.
Khi làng quê tôi ngập tràn khói lửa chiến tranh, nhất là từ khi nhà thờ họ đạo Ông Hào bị bom B52 ném sập gác chuông và thính đường năm 1965, đa số dân quê tôi tản cư ra thành phố Cần Thơ trú ngụ ở khu vực Ðầu Sấu, Xóm Chài, Cái Da, Rau Râm, Cái Răng, Bình Thủy…, hay chạy xuống miệt Thứ, Giồng Riềng, Chắc Băng, Cạnh Ðền tạm sống. Gia đình ba má tôi cũng theo đoàn người tản cư, nhưng gia đình Sáu Già lại không chịu đi. Lúc đó tôi chẳng hiểu vì sao? Mãi đến sau nầy tôi hay tin được Sáu Già đã theo du kích và mấy năm sau đã chết ngay tại chòi ruộng của nó bởi một trái đạn pháo binh từ chi khu Phong Ðiền bắn vào. Nghe nói, lúc tôi đã vào trường Bộ Binh Thủ Ðức cùng mấy đứa bạn khác nhập ngũ sau lệnh Tổng động viên năm 1968, thì ở quê nhà, Sáu Già cùng vài đứa bạn nữa theo du kích, sống quanh quẩn trên đồng ruộng quê nhà. Theo nếp sinh hoạt thường ngày, chúng nó vẫn hằng đêm soi cá, ban ngày tát đìa, đào hang, bắt chuột; nhưng những lần có mưa to không còn đi dậm cù nữa, bởi số người tham dự một cuộc dậm cù không đủ. Hơn nữa, những năm tháng đó, các bạn của tôi lại sống lén lút ở hang, hầm, lùm, bụi, và cũng sợ các cuộc hành quân tảo thanh từ bên ngoài tấn công vào. Cuộc chiến mấy mươi năm đăng đẳng, chẳng những đạn bom tàn phá xóm làng, mà còn có những bạn bè tôi, chơi thân từ thuở nhỏ, lại ở vào hai phía đối kháng để sẵn sàng hướng nòng súng về nhau, bắn giết nhau như một kẻ thù không đội chung trời, nghĩ mà đau lòng! Lịch sử sẽ ghi chép lại những thảm trạng đó, liệu sau nầy đời con đời cháu chúng ta sẽ nghĩ sao về giai đoạn tương tàn đó?
“Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ!” Nhà thơ Vũ Hoàng Chương trong bài PHƯƠNG XA đã viết câu thơ như vậy ! Tôi xin được mượn để bày tỏ lòng mình với bạn bè dù đã khuất hay còn sống trên cõi đời nầy, bằng lời cảm ơn chân thành.
Vẫn còn nhiều chuyện kỷ niệm thời xưa ở quê hương mình, có dịp tôi sẽ xin kể tiếp bạn nghe. Vì tôi nghĩ, dù sao, nghe nhắc lại chút kỷ niệm trong đời là chúng ta đã sống thật tình với hình ảnh quê hương trong trí nhớ của mình.
Những ngày mưa buồn ở HOUSTON
Tháng 10-95
sữa chữa cuối tháng 4/98
LÊ CẦN THƠ
(trong tập QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN
tác giả tự xuất bản tại Houston Texas Hoa Kỳ năm 2000)
![]()


About this entry
You’re currently reading “NHỮNG NGÀY………,” an entry on PHAN THANH GIẢN-ĐOÀN THỊ ĐIỂM CẦN THƠ, CALGARY, CANADA
- Published:
- 08.11.09 / 5pm
- Category:
- Tin tức bài vở mới cập nhật, Văn học, nghệ thuật
Comments are closed
Comments are currently closed on this entry.