TRUYỆN NGẮN
NGƯỜI
THẦY
KHAI TÂM

truyện
LÊ CẦN THƠ
(Houston, Texas, Hoa Kỳ)
LGT: Năm học mới 2009 – 2010 sắp bắt đầu trong vài tuần tới. Trang nhà trích giới thiệu truyện NGƯỜI THẦY KHAI TÂM của Lê Cần Thơ đã in trong tập bút ký “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ, để nhắc nhớ lại một chút hình ảnh quê nhà của những năm đầu thập niên 1950 tại miền quê nghèo khó Trường Long mà tác giả đã được sinh ra và lớn lên với tuổi thơ ắp đầy kỷ niệm. Tấm ảnh được in sau cuối bài, là ảnh lưu niệm của tác giả chụp với những học trò của lớp dạy tư “bổ túc các lớp tiểu học”, do một học sinh cũ là Đặng Quốc Tường (Seattle WA) sau nầy là cựu học sinh PTG, đã nhìn được “thầy” trong lần tham dự đại hội XII – 2008 tại Calgary, và trực tiếp tặng tác giả khi tham dự đại hội XIII – 2009 tại Nam California. Mời quý Thầy Cô và quý đồng môn, bạn đọc cùng chia sẻ bài viết NGƯỜI THẦY KHAI TÂM dưới đây. TRANG NHÀ PTGĐTĐCANADA
Có lẽ mỗi con người từ khi cha mẹ sinh ra, được chăm nom nuôi nấng cho đến khi trưởng thành bước vào đời, ai cũng có dịp đến trường để học chữ. Người thầy đầu tiên dạy dỗ chúng ta, theo như ba tôi nói mà mãi sau nầy lúc nào tôi cũng nhớ nằm lòng: ông thầy khai tâm! Khai tâm, từ điển ghi rất đơn giản “Vỡ lòng, mở mang tâm trí”. Vậy người thầy đầu tiên dạy vỡ lòng, mở mang tâm trí chính là người đã có công “khai sáng tâm trí” chúng ta, từ một trẻ sơ sinh lọt lòng mẹ với tiếng khóc tu oa chào đời, rồi biết lật, biết bò, biết ngồi, biết đứng, biết đi, biết chạy…, biết nói bập bẹ những tiếng ngây ngô đến lúc nói được tròn câu, tròn chữ… là nhờ công cha mẹ, những người thân trong gia đình. Nhưng để có được khả năng tiến hoá theo sự phát triển con người, cần phải được bồi dưỡng tâm trí, mà bước đầu tiên là học chữ, tức học văn hoá, phải nhờ đến thầy. Dù thời gian trôi qua quá lâu mang theo tuổi đời già cỗi, nhưng tôi vẫn nhớ như in cái ngày đầu tiên tôi được ôm cặp đến trường và đã được ông thầy “khai tâm” cho mình – đó là thầy Chín Hưng ở làng quê tôi, và đó là những năm đầu thập niên năm mươi, cả dân tộc ta còn trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Quê tôi, làng Trường Long nằm sâu trong vùng “Việt Minh kiểm soát” thời đó, vì phải chạy tản cư quanh năm nên đa số trẻ em chúng tôi không được đi học đầy đủ. Mãi đến năm 1952, trong cuộc hành quân gồm lính Pháp – Việt, rồi nằm lại đóng đồn Ông Hào, Vàm Bi, xem như làng tôi thuộc quyền kiểm soát của chánh phủ quốc gia. Dân chúng tản cư lần lượt trở về làng sinh sống bên thửa ruộng mảnh vườn, thì thầy Chín Hưng mới cất một lớp học trên một khu đất trống xéo vàm Rau Muôi, vốn là nghĩa trang chôn nhiều người trong thời chiến tranh. Vì tuổi thơ tôi không hiểu được người chết là những ai, nhưng mỗi sáng trước khi vào lớp học, thầy Chín Hưng cho chúng tôi đứng xếp hàng ngay ngắn rồi bảo chúng tôi “cúi đầu mặc niệm nhớ ơn người đã khuất”! trước khi vào lớp. Là thầy giáo dạy tư, nhưng thầy rất thương và lo lắng cho tất cả chúng tôi, theo dõi sức học từng trò để chỉ dạy tận tình. Trong lớp thầy có tất cả bốn mươi tám học trò, mà đủ cả các trình độ, từ lớp Năm đến lớp Ba, lớp Nhì và lớp Nhứt do thầy giáo Năng dạy (thời đó mới bắt đầu học là lớp Năm, lớp Nhứt là lớp cuối cùng của bậc tiểu học để thi vào Ðệ Thất (tức lớp 6 sau nầy) bậc trung học. Dù có nhiều trình độ như vậy, nhưng thầy dạy rất trầm tĩnh, cẩn thận, chăm chút từng học sinh một. Thầy chú tâm không sót một trò nào mới vào, để thầy uốn nắn, chỉ dạy tại chỗ cách nhìn mặt chữ, cách đọc chữ, ghép vần. Dạy chữ nào là nhớ ngay, nhớ mãi chữ đó, cùng lúc với “tập đồ” các chữ đã học. Thầy viết chữ rất đẹp trên từng trang tập đồ (trên giấy trắng chớ không phải tập đồ có in sẵn sau nầy), nét to tròn, đều đặn, chúng tôi cầm viết chì đồ theo. Ban đầu tay run, nét nguệch ngoạc, Thầy ngồi cạnh bên cầm tay tập cho chúng tôi kéo từng nét cho ngay ngắn, thẳng thớm, rồi quen tay. Tôi nhớ, mỗi ngày học hai buổi sáng và chiều, trưa nào, chiều nào trước khi về thầy đều gom tập đồ lại đem về nhà để thầy viết sẵn, đầu giờ học trả lại cho chúng tôi ngồi viết tại lớp. Thầy sửa thế ngồi của từng trò, thẳng lưng, không cúi thấp, ngực không đụng vào thành bàn, tay phải cầm viết, tay trái tỳ lên quyển vở… Khi chúng tôi viết chữ được thẳng nét thì thầy không cho đồ nữa, mà thầy chỉ viết một hàng chữ đầu rồi để chúng tôi nhìn và viết theo. Lúc nầy thầy không cho chúng tôi dùng viết chì, mà phải dùng viết chấm mực ngòi lá tre. Thời đó có hai loại ngòi viết “lá tre” và “lá vông” gắn vào cái cán bằng cây, nhưng thầy Chín Hưng bảo chúng tôi phải tập viết bằng ngòi lá tre cho chữ đẹp. Ngòi viết giống hình lá tre, từ đầu mũi viết trở vào đến lỗ nhỏ giữa ngòi có một kẽ hở nhỏ, nếu viết đè mạnh tay thì nét mực sẽ đậm ra. Viết bằng ngòi lá tre, nét sẽ mềm mại và có thể điều khiển cho chữ có nét đậm nét lợt rất đẹp. Sau nầy, tất cả các bạn lớp học do thầy Chín Hưng “khai tâm” đều có nét chữ gần giống như chữ của thầy, chân phương, đứng đắn, tròn đều và đẹp.
Thầy Chín Hưng còn có “hoa tay”, dù không phải họa sĩ nhưng thầy vẽ tranh sơn thủy rất đẹp. Thầy có sáng kiến trình bày mẫu giấy khen cho học trò sau mỗi khoá học, phần thưởng là bức tranh do chính thầy vẽ phong cảnh thật sống động.
Tôi đi học là một dịp rất tình cờ. Hôm đó, nhóm chúng tôi gồm năm đứa: Bảy Cù, Sáu Già, Năm Vinh, Tư A và tôi tuổi xấp xỉ nhau, cứ tụ tập chơi trò chia phe “đánh trận giả”, vũ khí là ống thụt làm bằng ống trúc hoặc ống tầm vông bắn bằng trái bố. Mỗi phe đốn cây chuối làm cây súng trung liên… dĩ nhiên “nổ” bằng miệng. Hai bên dàn trận xong thì mặt trời lên gần đỉnh đầu, là giờ học trò của trường thầy Chín Hưng tan học buổi sáng. Thay vì chúng tôi “đánh nhau”, không dè cả hai phía đều nhắm vào mấy đứa học trò tung tăng trên đường từ lớp học về, thụt lia lịa, “bốp, chát, bốp chát”, “Pằng Pằng, Pằng Pằng”… rồi hô “xung phong”… Từ trong các bụi cỏ, đám bố ngang vàm Ông Hào nhào ra, mình đứa nào cũng giắt lá cây “ngụy trang” như lính, chận đường khiến mấy đứa học trò đứng lại xơ lơ xáo láo một chút. Bỗng anh Hai Phát lớn nhứt trong nhóm học trò dõng dạc nói: “Ê, lớn rồi mà không chịu đi học, cứ chơi mấy trò vô ích, sau nầy dốt nát uổng thân!”. Anh ấy rủ mấy bạn học trò nói những câu trêu chọc bọn chúng tôi một lúc mới hí hửng bỏ đi…
Về nhà tắm rửa, ngẫm nghĩ câu nói của anh Hai Phát có phần đúng, tối lại tôi mới xin với ba tôi cho tôi được đi học. Nghe tôi đòi đi học, ban đầu ba tôi trố mắt nhìn ngạc nhiên, một lúc sau ba hỏi:
- Con muốn đi học thật phải không?
- Dạ! Ba cho con đi học. Tụi nó chọc quê, mắc cỡ quá!
- Ði học phải cố gắng và đàng hoàng, đừng bỏ học nghe.
- Dạ!
Thế là sáng hôm sau, ba tôi thức sớm, gọi tôi dậy và bảo tôi xuống sông tắm rửa sạch sẽ, thay đồ mới, chải đầu suông sẻ rồi dẫn tôi đi đến trường. Không hiểu ba tôi đã mua đâu sẵn tập và viết với túi đựng bằng vải (có lẽ má tôi đã may sẵn từ lâu), bảo tôi cầm tay và đi theo. Tôi không tả lại tâm trạng ngày đầu đi học như ông nhà văn Thanh Tịnh đã tả, nhưng phải nói, tôi đi học chỉ vì không muốn để cho tụi bạn cùng lứa tuổi chê bai, chế giễu.
Bởi đi quá sớm, khi tới trường thì chưa có học trò. Ba tôi phải dẫn ngược trở lại nhà thầy Chín Hưng. Vào nhà lúc thầy đang ngồi uống trà. Thầy Chín mời ba tôi cùng uống trà. Tôi thì đứng lấp ló ngoài hàng ba, nghe lỏm bỏm chuyện bên trong bàn uống trà.
- Anh cứ để cháu nó ở đây, một chút tôi dẫn nó qua lớp học. Có việc anh cứ về trước. Ðừng lo ngại gì hết. Tôi cố gắng dạy dỗ cháu…
- Cám ơn Cậu Chín. Nó đi học bây giờ cũng trễ tràng lắm, nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, tôi không thể cho cháu đi học sớm được. Nay mọi việc cũng nhờ cậu.
- Ðược rồi. Trông mặt nó cũng “sáng lắm”, chắc học mau chớ không tối dạ đâu!
Ba tôi ra về. Trước khi đi, ba dặn “con phải nghe lời Thầy, đừng để thầy quở trách”. Tôi “dạ” mà lòng không hề nao núng, vì trên đường đi, tôi tự hứa với lòng là “phải học cho giỏi, nhất định không để ai chê mình nữa”. Thầy Chín kêu tôi bước vào trong nhà, vỗ vào đầu tôi mấy cái rồi bảo:
- Con ở đây, một chút đi với thầy qua lớp. Con cầm mấy cục phấn với cây thước và ôm chồng tập nầy dùm thầy. Mỗi ngày trước khi vô lớp, con ghé đây gặp thầy để lấy thước, phấn và ôm tập nghe!
Thầy Chín xếp cho tôi ngồi ở đầu bàn thứ nhứt, gần sát với tấm bảng đen. Cũng từ vị trí nầy mà tôi tận mắt chứng kiến cảnh Thầy Chín bị té ngất xỉu trong một buổi dạy học, và thầy đã mang bệnh phải nghỉ dạy cả tháng trời!
Số là trường học báo giờ vô ra chỉ sử dụng bằng tu huýt thổi “hoét hoét”. Ông Ba Khá, thợ bịt trống da trâu trong xã, cách trường phía bên kia sông khoảng mấy trăm mét, có ý định tặng cho trường một cái trống. Thầy Chín mừng lắm, cho qua chở trống đem về treo ở ngoài hiên trước cửa lớp. Trống đánh ba tiếng là vào lớp, hai tiếng là ra chơi, ba tiếng và một hồi dài là tan học. Chưa đầy một tháng, tôi nhớ hôm đó thầy đang viết bài trên bảng thì chợt quay lại chỉ phía góc bảng: “Kìa, kìa, cục gì đỏ lòm vậy?”. Chúng tôi trố mắt nhìn chẳng thấy cục gì đỏ cả. “Ðâu có thầy”. “Kìa, kìa… đó đó…. cục đỏ đó, kìa kià, lớn quá, bằng cái thúng kìa kìa…”. Vừa nói, thầy vừa bước theo hướng mà thầy chỉ có cục đỏ, với dáng điệu khác thường, bỗng nhiên thầy té sấp trông dễ sợ lắm. Chúng tôi hoảng hốt “la làng” inh ỏi. Vừa la vừa chạy túa ra sân. Thầy Ba Năng dạy lớp kế bên nghe kêu la cũng chạy qua, đỡ thầy đứng dậy nhưng thầy Ba Năng nhỏ người, yếu ớt không đỡ nổi với vóc dáng to lớn của thầy Chín Hưng. Lúc đó, mấy nhà đối diện trường phía bên sông đã lội qua, chạy lên vực được thầy và vội khiêng thầy về nhà đặt trên bộ ván ngựa. Chúng tôi được cho về nghỉ… và nghỉ suốt thời gian thầy bị bệnh.
Nghe người lớn kể lại rằng, thầy Chín Hưng bị “âm binh” quở vì đã mang trống về đánh động tại khu vực có mả mồ và nhiều vong linh người chết. Gia đình có rước thầy làm đám đến đặt bàn hương án ngoài sân trên một cái ghế đẩu với một tấm thớt có cắm một cây dao yếm sắc lẻm, vái một con heo đứng cho thầy mau hết bệnh và hứa sẽ dời cái trống đi chỗ khác, không đánh tại khu nghĩa trang nữa!. Thầy Chín như người mất hồn, miệng nói láp dáp, tay quấn điếu thuốc bằng cườm tay, đưa vào miệng ngậm trông thật thảm thương. Gia đình cũng rước thầy Ba Ðồng đến bắt mạch hốt thuốc bắc cho thầy uống… Mấy hôm sau bệnh thuyên giảm, tâm thần tỉnh táo trở lại bình thường, nhưng thầy vẫn tiếp tục uống thuốc bắc cả tháng mới lành bệnh và đi dạy lại như trước. Vô lớp thầy nói là tự nhiên vừa đang viết bài trên bảng, thầy hoa mắt, quay nhìn bên cạnh thấy mộtcục màu đỏ như mặt trời, ban đầu cỡ quả trứng gà, lớn dần, lớn dần như một cái thúng…, thầy cố bước lại gần giơ tay chụp thì bị té nhào bất tỉnh! Chuyện xảy ra trước mắt tôi thế, nhưng từ đó và mãi đến bây giờ tôi cũng không thể lý giải nổi đó là hiện tượng gì. Có điều, tiếng trống trường tại lớp học của ông thầy khai tâm cho tôi, chưa đầy một tháng đã phải dời đi, và mãi mãi ngôi trường nầy không ai dám xài trống cả, bởi vì trường đang cất trên phần đất có rất nhiều mả mồ, đặc biệt có gần hai mươi ngôi mộ chôn ngay hàng thẳng lối, được dân địa phương gọi là nghĩa trang tử sỉ thời chống Pháp!
Học hết lớp Ba cũng là năm đình chiến. Trường nghỉ dạy một thời gian. Gia đình tôi sa sút trong sinh kế, ba má tôi đưa tôi sang Sa Ðéc để ở trọ nhà người cậu xin vào học tại trường Nam tiểu học hết mấy năm mới quay trở lại quê hương học trường tiểu học Phong Ðiền. Rồi tôi thi đậu vào lớp Ðệ Thất trường Phan Thanh Giản. Sau Tết Mậu thân 1968 tôi đến tuổi tổng động viên vào lính, rày đây mai đó, không có dịp trở lại làng quê trong những năm chiến tranh ngập tràn khói lửa, nhất là từ năm 1965 sau lần nhà thờ ông Hào bị bom ném sập, dân chúng tản cư ra thành thị để tránh chết chóc. Trong thời gian theo bậc trung học, tôi có mở lớp rồi cộng tác với bạn bè dạy tư để kiếm tiền trang trải chi phí học hành. Thắm thía tình nghĩa thầy trò, nhiều lúc tôi ngồi nhớ lại những ngày mới bước chân vào lớp học “khai tâm”, tôi thương Thầy Chín Hưng vô hạn. Thầy đã tạo cho tôi một ấn tượng cao đẹp trong thiên chức một người thầy – mà lại là người thầy đầu tiên khai tâm cho tuổi thơ trước rừng chữ nghĩa – nên một hôm tôi ngồi buồn nhìn đám học trò xếp hàng vào lớp sau tiếng chuông reo vang, bất chợt tôi nảy ra ý và sau đó viết bài thơ để tặng thầy, trong lúc không biết thầy đã tản cư tới một chỗ nào đó để bảo toàn mạng sống. Khi vào lính, gặp người quen, tôi có hỏi thăm, họ nói, dường như thầy sống trên một chiếc ghe và trổi nổi xuống miệt Thứ (?). Bài thơ tôi viết, in báo xuất bản ở Sài Gòn rồi in vào thi tuyển Về Nguồn nhưng chắc gì thầy đọc được, nên tôi đã gởi lên ban Thi Văn Mây Tần của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà. Nghệ sĩ Ðoàn Yên Linh và Kim Phượng đã diễn ngâm bài thơ nầy, với lời giới thiệu của Kiên Giang, đọc cả lời đề tặng của tôi, hy vọng ở một phương trời nào đó, qua làn sóng phát thanh thầy Chín Hưng nghe được bài thơ nầy. Bài thơ tôi viết kể từ sau khi giã từ lớp của thầy 13 năm, và đến nay đã tròn 32 năm, thầy có dịp nghe hay đọc được không ? Thầy còn sống trên cõi đời nầy, hay đã đi về miền vĩnh cửu, hỡi người thầy khai tâm của con ? Một lần nữa, con xin đăng lại bài thơ để nhớ về thầy kính yêu của con trong cõi đời nầy.
TIẾNG TRỐNG TIẾNG CHUÔNG (*)
* Kính tặng thầy Chín Hưng -
người thầy đã khai tâm cho tôi.
Tiếng chuông báo hết giờ – tan học
Lũ trẻ reo vui đứng xếp hàng
Thầy giáo vào trường mơ tuổi ngọc
Niềm thương ngày cũ dậy mênh mang…
Buổi trước vàng son quyện mái trường
Ngây thơ nào biết mộng yêu đương
Mỗi ngày hai lượt nghe khuyên bảo
“Lễ nghĩa”… thầy sơn đậm nét hường!
Tấm bảng màu đen dài một thước
Ghép bằng năm mảnh ván mù u
“Nhỏ”… nhưng chất chứa ngàn tinh túy
Khôn lớn rồi ai sẽ đáp bù?
Mười hai chiếc kệ chân ngàm đất
Khắp mặt loang đầy vết mực xanh
Bốn mươi tám mái đầu thơ dại
Ngồi viết từng câu “học phải hành”…
Trường lớp che bên mồ tử sĩ
Một gian hai chái hẹp, đơn sơ
Sớm mai thầy bảo ra truy niệm
Ðể nhớ anh linh gục dưới cờ…
Tiếng trống từng hồi ba nhịp chẵn
Báo giờ vô học – báo giờ ra…
Âm vang thánh thót từng giai điệu
Êm đẹp nào hơn tuổi học trò…
Ðất nước chừng thu vào lớp nhỏ
Say sưa thầy kể chuyện quê hương
Nào sông – nào núi – nào oai dũng
Kiêu hãnh làm sao giống Lạc Hồng!
Từ năm thôn xóm vương binh biến
Lớp học còn đâu giọng nhỏ to
Im vắng – nền xưa loang cỏ dại
Nổi lên từng đợt những hoang mồ.
Thầy giáo trường tư giờ thất lạc
Học trò ngày cũ lớn không thêm
Kẻ lo tranh sống, người trôi giạt
Biết có tình thương dậy nỗi niềm?
Mười mấy năm trời – bao biến đổi
Trống trường thay bởi tiếng chuông vang
Con mang lớp áo thầy ngày trước
Nuối tiếc niềm thương đã ngút ngàn.
Tháng 9 năm 1967
LÊ CẦN THƠ
(trích: QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN –
tác giả tự xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ)
_______
(*) Bài thơ in trên thi tuyển VỀ NGUỒN số 4 chủ đề TÌNH THU QUÊ HƯƠNG năm 1967 ký bút hiệu Huyền Vân Thanh. Đã diễn ngâm trên ban thi văn MÂY TẦN đài phát thanh Sài Gòn do thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà phụ trách, qua giọng ngâm Đoàn Yên Linh và Bạch Lê. Đã in trong tập NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ, bản thảo lưu lại, của tác giả HVT, do Trần Hoài Thư chủ trương cơ sở Thư Ấn Quán thực hiện năm 2007 tổng cộng 14 tập với lời ghi “phần hình thức, kỹ thuật và in ấn tập sách nầy được thực hiện bởi cơ sở Thư Ấn Quán như là món quà tặng văn nghệ của chúng tôi về người bạn thơ đã suốt đời phục vụ nền văn chương chữ nghĩa”.

“Con mang lớp áo thầy ngày trước”
[Sáu em lãnh phần thưởng (5 đứng trên cao và 1 đướng dưới thấp, từ phải sang trái): Lớp Nhứt: Lê Hoàng Tâm, Phạm Ngọc Mai, Châu Tín Đức, Lớp Ba: Phạm Ngọc Ánh, Lớp Tư: Nguyễn Hoàng Sơn. Lớp Năm: em Văn đứng thấp cạnh “Thầy” mặc áo chemise tay dài thắt cravate…
Ngồi hàng trước, từ phải sang trái, Đặng Quốc Tường là người học trò nam thứ 3…. Ảnh chụp trong buổi phát thưởng cho các học sinh học giỏi cuối khoá học – 1966 Bởi ảnh chụp trên 43 năm nên tác giả chỉ còn nhớ tên các em khoảng 1 phần ba trong ảnh mà thôi.]
![]()


About this entry
You’re currently reading “TRUYỆN NGẮN,” an entry on PHAN THANH GIẢN-ĐOÀN THỊ ĐIỂM CẦN THƠ, CALGARY, CANADA
- Published:
- 08.15.09 / 10pm
- Category:
- Tin tức bài vở mới cập nhật, Văn học, nghệ thuật
Comments are closed
Comments are currently closed on this entry.