TRUYỆN

DÒNG SÔNG

QUÊ TÔI

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas Hoa Kỳ)

Dòng sông quê tôi không có tên trên bản đồ đất nước như Cửu Long, Ðồng Nai, Hồng Hà, Thái Bình, Sông Mã, Sông Cả, Sông Chu, Trà Khúc, Thu Bồn…; nó cũng không nổi tiếng như Bạch Ðằng, Sông Hát, Sông Lô, Sông Ðáy, Sông Nhật Tảo…; nó không thơ mộng như Sông Hương ở Huế, hay may mắn đi vào thơ ca như Sông Ðuống, Sông Vàm Cỏ Ðông…; và, nó cũng không đi vào lịch sử đau thương bởi chia cách thâm tình dân tộc như Sông Gianh, Sông Bến Hải…

Dòng sông quê tôi phẳng lặng, bình yên, thăng trầm theo nhịp sống đơn sơ mà thủy chung như tấm lòng của người dân quê tôi ngày ngày lam lũ trên đồng ruộng mương vườn… Ở đó, những lúa, khoai, bắp, đậu, rau, cà… Ở đó, những quít, cam, xoài, bưởi, mít, sầu riêng, sa-pô, măng cụt… Ở đó, những mận, đu đủ, chuối, cau, dừa… Những sản phẩm người dân quê tôi làm ra đủ trang trải cho nhau cuộc sống thân thiết, ruột rà, đậm tình máu thịt từ bao đời. Bởi dòng sông quê tôi đã chuyên chở quanh năm nguồn nước ngọt mát trong lành, đậm chất phù sa màu mỡ, tạo nên miền đất lành chim đậu.

Dòng sông quê tôi, đúng ra là hai lần nhánh rẽ của dòng Hậu Giang hiền hoà thơ mộng ở đồng bằng Cửu Long. Nó tiếp giáp sông Cần Thơ vào Cầu Nhiếm, đến ngã ba chợ Phong Ðiền thì rẽ trái vào Vàm Bi, để từ đây có thể đi Giồng Riềng (tỉnh Kiên Giang). Bà con quen gọi là ngã cái. Bởi ngã cái chạy dọc uốn quanh năm bảy cây số còn có nhiều nhánh con tua tủa hai bên giống các rễ con của một thân cây đeo vào rễ cái, như Kinh Chợ, Rạch Vông, Mương Củi, Cai Cẩm, Mương Ðiều, Trà Ết, Mương Cau, Rau Muôi, Ông Hào, Cần Ðước, Mương Kinh, Xẻo Lá…Chỗ rộng nhất chừng năm sáu chục mét, chỗ hẹp nhất ba bốn mươi mét, là dòng sông do thiên nhiên tạo ra chớ không phải thuộc hệ thống kinh đào. Những lúc nước lớn đầy, dòng sông hiện lên như bức tranh vẽ hiền hoà mà sinh động: hàng cây hai bên bờ soi bóng nhấp nhô, ẩn hiện những mái nhà lá, nhà tôn, nhà gạch đủ loại, đủ kiểu, nói lên nét sinh hoạt và nếp sống đa dạng của người dân quê tôi. Những cây dừa nhiều buồng sai trái, những cây cau thẳng tắp vươn cao cứ lung linh, hun hút soi bóng dưới làn nước trong lành, gợn sóng. Ghe xuồng tấp nập, chiếc ngược chiếc xuôi. Tiếng mái chèo bì bõm. Tiếng máy đuôi tôm nổ rộn ràng. Dáng người trên bờ hân hoan mừng rỡ lúc có xuồng, ghe ghé vào bến nhà khi người thân đi chợ về tới hoặc khách từ xa đến… Những lúc nước ròng, dòng sông như thu hẹp lại. Hai bên bãi bùn non nhô lên. Những về lục bình mắc cạn trên những ngó bần lởm chởm tạo thành một mảng xanh rờn chạy dài hun hút. Bên bồi như muốn đứng thẳng, cao thêm. Bên lở có chỗ khuyết sâu để lộ những rễ cây gừa, cây sung, cây còng…, hoặc những rễ cây xoài đan chéo, rễ dừa tua tủa, chằng chịt, giống như những tranh tượng mà nghệ nhân khéo tay gọt dũa, phơi bày… Trên bãi bùn non, các em nhỏ đồng quê ở trần trùng trục, đôi chân lún sâu, đôi tay thọc vào các hang để bắt các con lịch (giống như con lươn nhỏ) chui sâu ở dưới lớp đất nhão nhoẹt… mà lưng các em bóng lưỡng dưới ánh nắng gay gắt của miền quê. Hình ảnh nầy từ thuở xa xưa, tuổi thơ tôi cũng từng trải qua, thụt hang bắt cá bống cát, bống dừa, bắt lịch trên những bãi bùn non mà dấu ấn không thể nhoà phai suốt cuộc đời mình.

Dòng sông quê tôi là đoạn nối liền mạch với nhiều nơi khác, toả đi muôn nẻo khắp kinh rạch, ruộng đồng. Nó khó được xác định nơi chỗ khơi nguồn. Nó cũng không tự đổ ra biển cả mênh mông. Dòng sông cứ bập bềnh trôi chảy vào ra theo con nước lớn, ròng, triền miên lâu đời như vậy. Chính sự nối liền kinh rạch như đan màn lưới nầy mà nảy sinh trong đời ba tôi một nghề sinh sống đặc biệt, ngoài việc lam lũ trên cánh đồng hơn hai mẫu đất sau nầy thuê mướn của chủ điền . Ðó là nghề đăng cá. Ba tôi đã theo đuổi nghề nầy trên hai mươi bốn năm, đến khi vùng quê tôi chiến tranh bùng lên ác liệt, nhất là năm 1965, nhà thờ Ông Hào bị bom B52 ném sập, tất cả dân trong làng tản cư ra sống quây quần quanh thành phố Cần Thơ, ba tôi cũng theo dòng người tản cư và bỏ nghề. Tôi đã khai thác ở ba tôi mọi chi tiết và viết thành bài NGHỆ THUẬT ÐĂNG CÁ với bút hiệu Thương Phượng đăng liên tục 14 số báo ở mục TẤC ÐẤT NGỌN RAU do thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà phụ trách trên nhật báo MIỀN TÂY do Nhà văn An Khê Nguyễn Bính Thinh làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút xuất bản tại Cần Thơ trong hai năm 1966-1967.(Tôi còn nhớ, Nhật báo MIỀN TÂY toà soạn và trị sự đặt tại số 3 đường Thủ Khoa Huân, trên lầu là Ủy ban kiểm duyệt vùng 4 do ông Mai Lạc phụ trách. Nhà báo Hồng Sơn làm Giám đốc, Ký giả Cao Trần (Cao Minh Hựu) làm Tổng Thư Ký toà soạn, Nhà văn Nguyễn Ngọc Mẫn phụ trách bài vở trang ngoài, Nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn (Tô Thùy Nghiêm) phụ trách bài vở trang trong. Báo in 4 trang hàng ngày, số đặc biệt cuối tuần in 6 trang, phát hành các tỉnh Miền Tây và Sài Gòn). Với cuộc đời ròng rã mấy mươi năm, vừa bám đồng ruộng để làm ra hạt lúa, vừa phải hằng đêm lặn hụp dưới sông rạch để bắt cá, nuôi sống cả gia đình…, hình ảnh cần cù lam lũ của ba tôi đã gây cho tôi xúc động, nên tôi đã viết bài thơ để dâng tặng ba tôi, với lời đề tặng mãi in sâu trong tim óc mình: Ba, con thấy phần đông ai ai cũng diễn tả tâm tình người Mẹ mà không hề nói tới người cha… Ðó là điều đau xót cho những bậc làm cha như Ba, như bao nhiêu người cha trên cõi đời nầy. Con thành tâm kính dâng Ba và tất cả… để ghi nhớ muôn đời tình cha thiêng liêng. (HVT). Xin ghi lại bài thơ nầy để tiếp tục kính dâng hương linh Ba tôi đang trong cõi đời miên viễn, mà những năm trong tù cải tạo có một lần Ba lặn lội tìm thăm tôi tại Vườn Ðào (Cai Lậy – Tiền Giang) cho đến khi tôi bị chuyển lên rừng Xuyên Mộc và được thả ra thì… Ba tôi vĩnh biệt cháu con trước đó 49 ngày :

GHE ÐĂNG

Miền Tây sông rạch đan màn lưới
Ba sống nghề đăng cá dưới sông
Hơn nửa kiếp đời thân khó nhọc
Thương con… ba khổ biết khôn cùng.

Ba khổ từ khi vừa gặp má
Nhà nghèo, ruộng đất kiếm không ra
Phát thuê, đập mướn từng công đất
Ðể kiếm tiền mua gạo, muối, cà…

Từ lúc xóm làng bừng lửa giặc
Cõng con, dẫn mẹ khắp miền quê
Ba lo chạy đói – cơm từng bữa
Khoai bắp thường hơn gạo lúa giê.

Rồi ba học được nghề đăng cá
Lặn ngụp từng đêm dưới rạch sâu
Năm năm tháng tháng quen sông nước
Quen nỗi buồn đau kiếp dãi dầu.

Con lớn theo từng hơi ba lặn
Ðặt từng chiếc lọp, cắm từng say
Ngày xưa có lẽ ba cầu nguyện
Nên tuổi đời con bớt đọa đày !?

Hăm bốn năm trời quen lạnh lẽo
Bây giờ ba giã biệt nghề đăng
Tuổi già, hơi mõn, thân còm cõi
Gượng sống mừng con đủ kiếm ăn ?!

Ba hỡi… quê hương giờ nhiễu loạn
Màu thương tang tóc phủ vây quanh
Con không về nữa thăm thôn xóm
Cố kiếm nghề – nhưng mãi chẳng thành !

Con nhớ ngày xưa Ba nhủ dặn:
Ðừng bao giờ chọn thứ nghề nầy
Lạnh thân, lạnh cả đời tranh sống
Có nghĩa gì đâu kiếp đọa đày ?

Nghe Ba, con tập đời viết lách
Nhưng kiếp con tằm phải nhả tơ
Nhớ mãi ghe đăng sông nước rộng
Quê hương… con thấy đẹp đôi bờ

Nếu phải non sông ngừng chiến trận
Yên vui thôn xóm rộn hoan ca
Con về bên chiếc ghe đăng cá
Sưởi ấm lòng Ba lúc tuổi già…

(HUYỀN VÂN THANH – Tháng 6-1966)

Ước vọng của tôi là muốn được về bên chiếc ghe đăng cá, là về với dòng sông quê hương, về với kỷ niệm ấu thơ đậm sâu dấu ấn trong cuộc đời mình, vì ở đó đã luôn gợi nhớ trong tôi hình ảnh của Ba suốt đời gian khổ để tạo cho anh em chúng tôi có cuộc sống nên vóc nên hình.

Sang đến đất nước Hoa Kỳ và định cư tại một thành phố rất ít sông rạch, nhưng quá nhiều cầu, chợt nhiên tôi lại nhớ về quê hương cũ, nhớ dòng sông chảy ngang qua nhà mà ở đó tôi có quá nhiều kỷ niệm. Năm 1985, tôi có dịp về quê Trường Long dự lễ cúng giỗ lần thứ 12 của Ba tôi, tôi đã viết bài thơ khi ra tận phần mộ, một mình ngồi buồn nhớ rồi cảm thấy ân hận, bởi vì ngày Ba tôi trút hơi thở sau cùng, tôi còn trong trại tập trung ở rừng Xuyên Mộc, khi được thả ra thì chỉ gặp được tên họ của Ba trên tấm mộ bia nhập nhoà theo khói nhang tôi vừa kính viếng. Tôi đã viết một mạch bài thơ để dâng theo hương linh của Ba tôi trong cõi đời miên viễn.

AVienVN
“Ba nằm đó mười hai năm chẳn”

(Ảnh chụp ngày 30-3-1985)

MÙA NẦY CON NHỚ BA

Mùa nầy quê mình buổi sáng nước ròng
Dọc hai bãi sông đất bồi óng ả
Bầy còng gió trồi miệng hang hỉ hả
Ðùa rượt nhau giữa tĩnh lặng khôn cùng

Con đứng nhìn màu nước đục mông lung
Những “tăm sôi” từ đáy sông vụt dậy
Ngỡ hơi thở của ba từ dạo ấy
Lặn xuống lòng sông hằng đêm

Trải từng “tay đăng”, đặt chiếc lọp êm êm
Ðón bắt cá tôm bằng mộ nghề hạ bạc
Nuôi con lớn vượt bao ghềnh thác
Ba vẫn âm thầm bên cuộc sống quạnh hiu

Vì đàn con đông, ba quen cảnh chắt chiu
Nhường sung sướng theo từng hơi thở
Ngày ba xuôi tay – phương xa con nhớ
Khi trở về mọi việc đã an bài

Con cúi đầu bốm đốt ngón tay
Ba nằm đó mười hai năm chẳn
Kỷ vật đời ba mòn theo năm tháng
Nhưng vết khắc lòng con mãi mãi đong đầy

Trở lại quê xưa vào đúng mùa nầy
Thuở còn sống ba một đời tần tảo
Nước ròng sáng – làm nên chén cơm manh áo
Ba yêu con mình, thương cả thiên nhiên

Ðể bây giờ con sống giữa bình yên
Mang tinh tuý ba đi vào khôn lớn
Như chiếc ghe đăng ba chống chèo khắp chốn
Mãi mãi chung tình với sông rạch quê hương…

Trường Long 30-3-1985
HUYỀN VÂN THANH

mobamaanhvien
“Má của con đã về cạnh bên Ba
Ba với Má sống đời đời miên viễn”
(Ảnh phần mộ Ba Má tôi được xây xong năm 2002 và do Anh từ quê nhà gởi sang cho tôi)

Tôi cũng còn nhớ thời còn theo bậc Tiểu học (cấp 1), tôi đã từng đi bộ dọc theo dòng sông quê tôi trên sáu cây số. Tháng nào học sáng tôi phải rời nhà lúc bốn giờ khuya, tay cầm cặp vở, tay cầm miểng gáo dừa cắm đèn cầy để soi lối đi. Tôi phải vượt qua một khu nghĩa địa ngang rạch Rau Muôi, mà thuở đó còn nhỏ, tôi lại sợ ma, càng đi nhanh, phía sau lưng mình dường như có người nện gót đuổi theo. Mãi đến sau nầy tôi mới hiểu được, khi mình đi càng nhanh thì gót chân mình tạo nên âm thanh dồn dập, khiến mình có cảm tưởng như có ai đang đuổi theo phía đằng sau ! Vậy mà tôi đã sống qua hết mấy năm học như thế. Bởi đi học khuya, nhiều lúc phải cởi hết quần áo cầm tay lội qua dòng sông nầy. Tháng nào đổi học buổi chiều thì đỡ hơn, bởi có thể xin quá giang ghe xuồng qua lại. Học chiều, tôi rời nhà lúc mười giờ, vừa đi vừa rình bắn các chú chim đậu trên các cành cây xoài, vú sữa, cây gừa, cây còng… hay trên các tàu cau, tàu dừa. Với cái nạng giàn thun và những viên đạn được vo tròn bằng đất sét bóng láng, chúng tôi có thể bắn các loại chim sáo, chim cu, trao trả, hít cô, chim sẻ, chìa vôi… mà mình bắt gặp chúng nhảy nhót trên đường đi học. Bắn chim chỉ là trò chơi tuổi thơ. Ba má tôi thường khuyên dặn không cho săn bắn chim, nhưng thấy các bạn mình chơi trò săn bắn hấp dẫn nên tôi cũng lén làm theo cho vui! Thắm thoát trên ba mươi mấy năm. Tuổi thơ đã theo với tuổi đời mình, đắm chìm, trôi nổi. Vậy mà dòng sông quê tôi vẫn bình lặng chảy theo từng con nước lớn ròng. Sông vẫn chở nguồn nước ngọt phù sa màu mỡ dưỡng ruộng nuôi đồng. Sông đã gắn chặt từng cuộc đời của mỗi người dân sống ở quê tôi, như màu tím bông lục bình mãi mãi hiển hiện trên dòng sông nầy, thủy chung, trìu mến.

Sống đời lính chiến nhiều năm, tôi có dịp đi khắp đó đây, qua nhiều dòng sông lớn nhỏ, những khúc sông tên tuổi một thời. Cũng có những dòng sông gây dấu ấn đậm sâu trong tâm hồn tôi, như sông Cái Côn nối liền Phụng Hiệp với sông Hậu (Quận Phong Thuận), đơn vị chúng tôi hằng ngày hành quân mở đường làm an ninh lộ trình để đoàn xà lan chở đá vào cầu quay Phụng Hiệp cho hãng thầu RMK làm quốc lộ 4 (Cần Thơ đi Cà Mau), đã đổ biết bao máu xương bởi mìn bẫy, bởi các cuộc chạm súng ngày đêm của những năm 69-70. Như sông Xà No đã dìm xác bạn tôi, Trung Úy Hùng khi bạn bị địch tấn công đồn Chủ Thiện (Lò Ðường), như sông Cầu Trắng (Phụng Hiệp) đã dìm xác người lính thương yêu của tôi, anh Võ Văn Thảnh… khi bị một quả mìn nổ tung, mãi đến hôm sau mới mò được xác anh hồi đầu năm 70. Như tại ngọn rạch Ðất Sét, Thiếu Úy Lâm Ðình Thảo, Ðại đội trưởng Ðại đội 489/ÐPQ Tiểu khu Phong Dinh đã ngã gục vào sáng ngày 1-3-1970 bởi một trái đạn 105 ly do địch gài và bấm điện, mà tôi là người đi cạnh bên anh còn may mắn sống sót để sau đó được Trung Tá Phạm Văn Như (Chi Khu Trưởng Phụng Hiệp) cho về Cần Thơ lo hậu sự cho anh. Như chính ở vàm rạch Mương Ðiều, Chuẩn Úy Nguyễn Văn Mùi, bạn đồng khóa 5/68 với tôi đã vĩnh viễn xuôi tay do cuộc phục kích của địch gây ra năm 1969… Ôi, những dòng sông quê hương sao có nhiều sự cố xảy ra lắm đau thương, buồn bã như thế ?

Vậy mà, tôi vẫn không sao quên được hình ảnh dòng sông nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Dòng sông quê tôi dù không có tên trên bản đồ đất nước, nhưng chắc chắn một điều, tên nó đã khắc sâu trong tâm khảm tôi, trong lòng của mỗi người dân trót sinh ra và lớn lên trên miền đất lành trái ngọt Hậu Giang. Ôi, dòng sông ngã cái, giống như muôn ngàn dòng sông vô danh khác rải rác khắp cùng đất nước Việt Nam ruột rà máu thịt, một dòng sông có mẫu tự đầu không ai nhớ viết chữ hoa.

LÊ CẦN THƠ

(Trong tập QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN,

tác giả tự xuất bản tại Houston Texas Hoa Kỳ năm 2000)

2j2vvqs
87749863-mekong-river-boat-vietnamyenlabusinesscard211-300x171


About this entry