TRUYỆN

NƯỚC RÒNG

truyện

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas)

Ngồi trên bộ ngựa gõ bóng đen nhưng trên mặt còn mấy vết cháy sém do những lần đốt nhà của giặc Pháp, Dì Năm-thợ-nấu đang ngoáy trầu. Chân phải xếp bằng, chân trái co lên, gối vào nách – một dáng ngồi quen thuộc của những bà mẹ già dồng quê đã trở nên gần gũi với Khánh, có lẽ đã mấy chục năm rồi. Anh ngồi tréo chân uống trà trên chiếc bàn tròn kê giữa nhà, tiếp chuyện với Dì Năm.

Bây giờ khách khứa đã ra về hết. Dưới bếp, chị Út với mấy cháu gái trong xóm còn lo rửa chén dĩa, tiếng nói cười thỉnh thoảng vọng lên. Đáng lý ra, sau bữa tiệc kỵ cơm anh Năm Ve, Khánh phải trở ra Cần Thơ ngay, Dì Năm nói “con ở lại chơi một đêm không được sao?” đã buộc Khánh quyết định chưa về. Vẫn biết sự có mặt của mình sẽ là nguồn an ủi vô cùng với dì Năm, vì có anh, dì Năm sẽ sống lại kỷ niệm của thằng con trai đã hy sinh gần mười tám năm rồi. Thằng Năm Ve, bạn sống chết với Khánh suốt những năm chiến tranh, mà hôm nay kỷ niệm ngày hy sinh của nó, ít nhứt Khánh cũng phải ở lại với Dì cho trọn tình nghĩa. Dì Năm đã nghĩ như vậy. Chín Khánh hiện đang công tác bộ phận thu mua lương thực, công việc đòi hỏi không thể vắng mặt ở cơ quan lâu được. “Ở lại một đêm chắc không đến nỗi nào”. Hồi trưa, khi rời cơ quan, Chín Khánh căn dặn cậu Thiện thật kỹ những vấn đề liên quan đến giấy tờ cần thiết, nhưng do tinh thần trách nhiệm, trong lòng anh cứ lo sao ấy! Cái lo của Chín Khánh cũng có nguyên do của nó, bởi suốt mấy năm qua, vai trò của anh đã “bao” hết công việc mà đáng lý ra anh phải phân tán cho từng nhân viên một. Tóm lại, anh không hoàn toàn tin tưởng ai hết, ngoài mình. Bởi vậy, Chín Khánh từ từ lơ là đến quê hương chòm xóm đã gắn bó với anh suốt những năm dài chiến tranh ác liệt. Hàng năm, Chín Khánh mới về quê được một lần, vào ngày kỷ niệm anh Năm Ve hy sinh. Không về, anh nghe lòng dày vò không yên. Hôm nay anh còn sống và có được vị trí cao hơn trong xã hội cũng nhờ Năm Ve.

Uống hết ly nước trà nóng, Chín Khánh rót thêm ly khác. Dì Năm cũng ngoáy xong cối trầu rồi đưa lên miệng. Dì đổi thế ngồi. Bây giờ một chân gối lên nách, một chân đong đưa muốn chấm xuống đất, mặt quay nhìn thẳng Chín Khánh. Dì vừa nhai trầu, vừa hỏi Chín Khánh:

– Công việc ngoài đó bề bộn lắm sao mà con ít dìa đây vậy? Hay là “tụi bây” quen đi xe hơi ở nhà lầu… rồi quên đồng ruộng?

– Dạ… đâu có quên Dì Năm. Tại công việc…

– Tao thấy, hổng phải chỉ mình “mầy”, mà mấy đứa kia cũng vậy. Có chuyện cần nói thì khó mà gặp được. Ra ngoài đó để gặp đứa nào, nói thiệt, tao không bao giờ đi. Lỡ “quê mùa” thì “quê mùa’” cho tới chết! Chỉ tội nghiệp đứa đã hy sinh…

Nghe câu nói có ý trách móc của Dì Năm, Chín Khánh có phần chột dạ. Dì trách, phần nào cũng đúng thôi, bởi cả cuộc đời của Dì chưa bao giờ nhận lấy cho mình sự sung sướng trong khi Dì đã dành cho mọi người không còn sót một chút tình nghĩa hay quyền lợi nào… Tấm lòng của Dì Năm cứ rót mãi mà không châm, đã đến nỗi phải cạn đi… cạn nhnư con nước sông ròng mãi ra biển khơi. Chín Khánh khẽ chớp mắt:

– Dì Năm! Tụi con có đứa nào vô ơn bạc nghĩa đâu. Tất cả chỉ vì công việc ngày càng bận rộn. Sự hy sinh cao cả của đồng bào, đồng đội… lúc nào tụi con cũng khắc sâu!

– Nói và làm, có chắc “tụi bây” đi đôi được không, chớ riêng tao, tao thấy có cái gì chưa ổn lắm. Tao thấy cuộc sống người dân xóm mình ngày càng cách biệt với thành tích tụi bây. Đâu phải nói để kể công, nhưng nếu trước đây không có đám nghèo dốt tụi tao thì “tụi bây” có được như ngày hôm nay không?

Chín Khánh hớp ngụm nước trà mà nghe đăng đắng lạ kỳ. Suốt buổi chiều dự tiệc, gặp được nhiều bà con chòm xóm, ai ai cũng hỏi han chúc mừng anh. Anh chưa nghe câu nói nào ngầm ý than phiền trách móc cả. Bây giờ, chỉ còn lại hai dì cháu, Dì Năm đã khơi dậy trong lòng anh những suy nghĩ dày vò. Có thật, mình và các anh em đã nối tiếp truyền thống tốt đẹp để phục vụ đất nước, đồng bào, hay vì cuộc sống mới đã từ từ biến mất phẩm chất trong lòng của mỗi con người? Dì Năm-thợ-nấu, một người đàn bà miền quê đã cống hiến cho đất nước ba người con trai trong cuộc chiến vừa qua, và đã dành trọn đời mình để đóng góp công sức mà không đòi hỏi một chút quyền lợi nào. Còn rất nhiều tấm gương như thế rải rác trong khắp miền quê sông nước Hậu Giang mà anh cùng đồng đội đã sống qua. Thật tình thì từ sau ngày nước nhà kết thúc chiến tranh, Chín Khánh nhận lấy công tác ở thành phố. Ngày ra thành, anh chỉ có trong mình chiếc “ba lô con cóc” với bộ đồ mặc trong người . Bây giờ anh được cấp nhà ở với đầy đủ tiện nghi. Có truyền hình để hàng đêm vợ con xem giải trí. Có điện thường xuyên để xài tủ lạnh. Di chuyển tới lui cũng có xe cơ quan. Tóm lại, tiện nghi mà anh hiện có đã quá đầy đủ ngoài sức ước mơ của chính bản thân mình. Thỉnh thoảng, vợ anh nhận được quà tặng mang gởi tận nhà. Ban đầu anh còn e dè dặn vợ “đừng nhận”, nhưng do giao tiếp nhiều, anh thấy việc nhận quà cáp cũng là điều bình thường nên đã làm ngơ đi. Tủ lạnh nhà anh lúc nào cũng đầy ắp rau, quả, thịt heo, cá biển…, thức ăn tương đối cho gia đình sống thư thả trong đôi ba ngày không cần ra chợ. Vợ anh có lần bàn với anh:

– Lúc nầy trời nắng, nước đá cần thiết lắm, anh ra chợ mua giùm mấy cái ly nhôm để ta làm nước đá, cho mấy đứa nhỏ bán lấy tiền quà bánh.

– Hao điện lắm!

– Thì cũng lượng điện của mình xài hàng ngày. Không lấy nước đá cũng phải ướp thức ăn. Điện nhà nước mà…

Rồi từ đó, trước cửa nhà Chín Khánh có bảng ghi “bán nước đá cục”. Lần hồi, cả dãy nhà anh ở, căn hộ nào cũng có bảng ghi tương tự như vậy. Chính Khánh cho rằng, đây là chuyện bình thường, nên cũng làm ngơ đi. Cũng từ nước đá, đã nhắc nhở trong trí Chín Khánh một câu chuyện thương tâm. Mà nạn nhân là Dì Năm-thợ-nấu đang ngồi đối diện với anh hôm nay.

Năm 1965, khi máy bay B52 Mỹ ném bom sập nhà thờ họ đạo Ông Hào, gây chết chóc hàng mấy trăm người trong xóm đạo, bà con ùa nhau tản cư đi tứ tán. Người đi thẳng ra Cần Thơ che chòi, ở trọ dọc con rạch Đầu Sấu, Xóm Chài, Cái Da, Bình Thủy.., để làm thuê, làm mướn kiếm ăn. Người thì xuôi vào Kinh Mới, Chệt Thợ, Bà Đầm, Thác Lác… hoặc xuống Vị Thanh, Long Mỹ. Nghĩa là “tản cư” khỏi nơi xảy ra chiến tranh thảm khốc. Chỉ còn lại một số bà con, vì thửa ruộng mảnh vườn, đã “bám trụ” đương đầu với mọi tai họa chực chờ đến với chính gia đình mình, trong đó có Dì Năm-thợ-nấu. Sở dĩ Dì có tên ghép như vậy, bởi trước kia Dì thường đi nấu các đám tiệc cưới hỏi trong vùng. Dì là thợ chánh, sáng chế ra những món ăn đặc biệt, ngon miệng. Dì còn dẫn dắt theo nhiều cô gái tuổi mười lăm mười bảy, muốn học hỏi cách thức nấu nướng ngon miệng trong bữa tiệc đông người. Đám tiệc nào do Dì đứng ra lãnh nấu đều được “thực khách” khen, tiếng lành đồn xa, Dì Năm-thợ-nấu đã thành danh từ đó. Tuổi trên sáu mươi, Dì Năm lúc nào cũng nghiêm trang mực thước. Đám cháu con trong vùng ai cũng kính mến, nể nang Dì. Nhất là trong thời gian “bám trụ”, Dì Năm là chỗ dựa cho nhóm trai trẻ theo du kích ở địa phương. Với chiếc xuồng con bơi theo con nước lớn ròng, Dì Năm ra chợ mua sắm đủ thứ thức ăn cần thiết, kể cả thuốc tây trị bệnh… và nghe ngóng tình hình ngoài chợ để báo cho con cháu. Dì cũng từng mang thư của “giải phóng” đưa cho lính đồn Trà Ếch nhiều lần. Lính đồn không thể bắt Dì mà Dì cũng khó để sai phạm cho lính đồn làm tình làm tội. Duy nhất có một lần xảy ra mà thôi.

Như thường lệ, ngày thương binh liệt sĩ, các bà Mẹ hẹn nhau đến nghĩa trang liệt sĩ Rau Muôi làm cỏ, cắm hoa. Đơn vị Chín Khánh và Năm Ve đang “trụ” tại địa bàn nầy để dưỡng quân. Các Mẹ quyết định tổ chức tiệc khao quân, mới phân công Dì Năm ra chợ mua “gia vị” kèm theo một cây nước đá. Dì nhận và bơi xuồng ngược con nước để về kịp giờ tổ chức tiệc. Cũng tại cây nước đá “ém” dưới lườn xuồng mà lính đồn Trà Ếch phát hiện, bắt giữ Dì Năm ngủ muỗi cả đêm tại sân đồn, mãi đến sáng hôm sau mới thả Dì về. Về đến nhà, cây nước đá không còn vết tích gì, chỉ còn mớ trấu nằm lởm chởm trong nước ở lườn xuồng. Đêm Dì Năm kẹt ở đồn, các Mẹ xốn xang trong lòng, tìm cách xào nấu các món ăn, cố dùng “cây nhà lá vườn” để đãi đơn vị. Các anh em trong đơn vị không thể ăn ngon, cứ ngồi thừ ra đó rồi bàn nhau cách giải thoát cho Dì Năm. Sau nhiều ý kiến, các Mẹ quyết định không cho, đơn vị phải “án binh bất động”, vì nghĩ rằng trước sau gì thì Dì Năm cũng được thả về mà thôi. Năm Ve thấp thỏm lo âu cho Mẹ, nhưng vì kỷ luật của tổ chức, anh không dám hành động. Chín Khánh nhìn xa, thấy rộng hơn… nên khi các Mẹ quyết định, anh là người đầu tiên tán thành phương án “bất động” đó…

Chín Khánh bất chợt nhìn sâu vào khuôn mặt Dì Năm. Những nếp nhăn cứ gợn lên gợn xuống theo chiếc miệng móm sọm đang bỏm bẻm nhai trầu, đã khiến cho anh nghe nao nao. Nếu Mẹ mình còn sống chắc cũng vóc dáng thế nầy, cũng toả ra nét đôn hậu như vậy… Câu chuyện Dì Năm bị lính đồn bắt giữ vì cây nước đá xảy ra đã hơn hai mươi năm rồi. Cũng trong khoảng thời gian đó, Dì Năm còn nhận chịu cho mình bao nhiêu là mất mát đau thương nữa. Năm Ve, Bảy Bò, thằng Út… lần lượt hy sinh! Chín Khánh nghe cay cay nơi mi mắt. Đã lâu lắm rồi, anh ít có dịp ngồi ôn lại chuỗi ngày qua, hay đúng hơn là không có môi trường để anh nhắc nhở lại. Hôm nay, buổi chiều yên tĩnh, ngay trong căn nhà lá nghèo nàn của Dì Năm, Chín Khánh cảm thấy tâm hồn mình có chút gì xúc động. Anh muốn biết, chuyện gì xảy ra nơi quê hương mình mà Dì Năm có vể trách cứ như vậy?

– Dì Năm có thể nói cho con biết, địa phương có khuyết điểm gì đối với bà con khiến cho Dì năm có vẻ cay cú quá vậy?

Nhả bã trầu vào ống nhổ, Dì lấy chéo khăn vắt vai lau miệng. Thật điềm đạm, Dì hỏi thẳng Chín Khánh mà không thèm trả lời câu hỏi vừa rồi.

– Vậy theo con, con thấy tình nghĩa của các con đối với cô bác có tròn vẹn chưa? Tự bản thân mình, các con có sống và làm việc đúng với lòng mong muốn của dân chưa?

– Dì Năm nói rõ hơn?

– Chẳng hạn, các con có khi nào nghĩ rằng mình đang “ung dung hưởng thụ” với những giàu sang trước mắt, mà trước đây Dì không thấy đứa nào chấp nhận đối với lính cộng hoà? Trong gian khổ, cái phẩm chất cao đẹp đứa nào cũng sáng cả. Ngày nay hoà bình, dường như có cái gì thay đổi. Nội trong xóm ấp nghèo nàn nầy, sau hoà bình hầu như mọi cái chỉ mới bắt đầu làm lại. Từ gốc cây, mảnh ruộng, từ con mương, đống chà… Làm ra sản phẩm không bao nhiêu mà đã bị cay đắng đủ điều. Muốn mua một lít dầu đốt phải chầu chực đôi ba ngày. Lúa làm ra ngoài việc đóng nghĩa vụ, số dư thừa phải bán theo giá “chỉ đạo”, khi muốn mua gạo ăn phải chấp nhận mua giá cao, giá chợ đen, mà mặt hàng gạo là do “nhà nước quản lý”. Nói thì con không tin, bà con mình có nhà phải ăn cháo, ăn rau luộc thay cơm, khổ còn hơn thời chiến tranh, ngủ không có mùng. Hằng năm, chế độ mua vải không đủ may được một bộ quần áo… Trong khi “mấy đứa” lại sống thật sang. Đi xe hơi, ở nhà lầu, trong nhà thịt cá rau cải để đầy tủ lạnh, ăn không hết… Bà con đồn là đọc nhựt trình biết được có nhiều cán bộ còn “ăn hối lộ”, “tham nhũng” nữa…

Dì Năm tuôn ra một mạch mà vẫn chưa thấy Dì hài lòng với lời nói của mình. Chín Khánh cắt ngang:

– Dì Năm nói cũng có đúng phần nào. Nhưng không phải toàn thể cán bộ ta biến chất như vậy. Những ai mắc khuyết điểm, sai lầm đều được phê phán đúng mức. Báo chí có đăng tin, có nói như Dì Năm vừa đề cập, đó là chúng ta trung thực phê bình và tự phê nghiêm túc, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, tiến lên xây dựng một xã hội tốt đẹp. Bao nhiêu khó khăn, phức tạp ở địa phương, dần dần sẽ được tháo gỡ. Cách mạng là làm cho dân giàu, nước mạnh chớ không phải để tồn tại như những điều Dì Năm vừa kể ra đâu!

– Đúng là Cách mạng để dân giàu nước mạnh. Đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước theo lý thuyết lúc nào cũng đúng, trước sau như một mà!… Mỗi người dân nghèo dốt như Dì luôn được cán bộ các con nói đi nói lại hoài nên cũng hiểu, cũng tin. Bởi tin, bởi hiểu nên mới có đóng góp cao cho cách mạng thắng lợi hôm nay. Tao không dám nói chung, mà chỉ nói riêng với mấy đứa bây, là con cháu cật ruột của mình mà thôi. Tụi bây hãy tự nhìn lại mình, đừng tiếp tục để làm buồn lòng cô bác mà cũng đừng để hổ thẹn với người đã hy sinh…

Chín Khánh nghe như se thắt trong lòng. Đúng là Dì Năm đã trách mình đây. Là người sống và lớn lên trên mảnh đất nầy, từng chịu đựng biết bao thăng trầm với bà con trong suốt những năm dài chiến tranh ác liệt, bây giờ đất nước hoà bình, bà con đang bắt đầu làm lại cuộc sống thì mình lại bước xa hơn. Sống với đầy đủ tiện nghi, xa rời gian lao đồng ruộng. Thậm chí cũng không tạo hoàn cảnh để thường xuyên lui tới cùng bà con, đã mang lại nhiều mặc cảm trong lòng người dân. “Ra ngoải để gặp đứa nào, nói thiệt, tao không bao giờ đi… Chỉ tội nghiệp mấy đứa hy sinh…”. Dì Năm cứ gợi lại chuyện hy sinh khiến cho anh thoáng chút ngậm ngùi. Cái chết của Năm Ve, phải chăng là niềm đau lớn nhứt trong lòng Dì Năm ấp ủ suốt bao năm qua? Chín Khánh nhớ rất rõ, vào cuối năm 1967, lúc vợ anh sắp sanh thằng Chiến thì cô bác đưa vào “cứ” để gần gũi anh. Không ngờ lệnh gọi anh về trên họp gấp trong khi vợ anh chuyển bụng. Năm Ve thấy tình cảnh bạn, nên tình nguyện đi thay. Đơn vị cũng thống nhứt cho Năm Ve được đi họp thay Chín Khánh.

Trời nhá nhem tối. Chín Khánh đưa Năm Ve ra tới mé ruộng. Cơn gió đêm dìu dịu, hai người đứng sát vào nhau trao đổi dặn dò đôi câu. Năm Ve bảo Chín Khánh hãy trở lại trông chừng chị Chín, cứ yên tâm, “khi họp xong, tôi sẽ trở về ngay”. Nhìn bóng bạn khuất dần theo hướng bờ chuối Ba Viên, Chín Khánh mới quay trở lại. Chưa đầy một giờ sau,nhiều loạt đạn tiểu liên nổ ran ở hướng đi của Năm Ve. Cả đơn vị Chín Khánh báo động… thì cũng là lúc vợ anh hạ sanh một thằng con trai – thằng con trai thứ tư trong gia đình mà sau đó anh quyết định đặt tên là “Chiến” để nói lên ý chí quyết chiến đấu và chiến thắng của mình. Năm Ve lọt vào ổ phục kích của toán lính tiền đồn, bị nổ súng trước và anh đã hy sinh tại chỗ. Pháo binh từ chi khu Phong Điền và Một Ngàn bắn vào ầm ĩ suốt đêm, đạn trái sáng cũng thay nhau soi cả vòm trời. Xác Năm Ve được lính kéo về để ngoài cổng rào kẽm gai đồn Tràu Hôi để sáng hôm sau nhận dạng. Mãi đến quá trưa, lính đồn đóng bè chuối rồi đặt xác Năm Ve thả trôi lềnh bềnh trên dòng kinh đầy nước cho bà con thân nhân đưa về chôn ở nghĩa trang liệt sĩ Rau Muôi…

– Dì Năm à, sự hy sinh nào cũng lớn lao, cũng cao quý… Mãi đến bây giờ con vẫn còn ân hận về cái chết của anh Năm Ve… Phải lần đó con đi…

– Đừng con, đừng nhắc lại làm gì. Con hay nó cũng phải chịu hy sinh trong lần đó mà thôi. Bây giờ, người còn sống cần nói với người còn sống. Mầy nhớ Dì Tư Kiên không? Hôm qua gặp mặt, “bả” cằn nhằn dữ quá!

– Dạ nhớ. Dì Tư cằn nhằn vụ gì vậy?

– Bả nói làm rẫy mùa rồi, chắt mót được mấy lít đậu, định mang ra Cần Thơ cho con cháu mỗi đứa một hai lít ăn. Nghe nói lúc nầy đậu mắc lắm, chắc tụi nó mua không nổi để ăn. Nhưng dọc đường bị xét, nghe nói “thuế vụ, kinh tế” gì đó. Bả lúc đầu năn nỉ, sau thấy không được nên cự nự om sòm. Họ giải về trạm giải quyết. Té ra thằng Bảy Trung làm ở đây, gặp mặt bả nó ‘làm lơ” không thèm chào hỏi, còn đem nguyên tắc nầy nọ để buộc đóng phạt mới lấy được mấy lít đậu đó. Bả giận quá, không chịu đóng rồi bỏ đó, quày quả trở về tay không. Ôi, bả chửi Bảy Trung tắt bếp!

– Dì Tư đem cho bà con thiệt hay đi buôn, Dì Năm có biết không?

– Ôi, bả mà buôn bán cái gì. Vô ra Cần Thơ hà rằm, chắc họ quen mặt sao đó. Đời nào bả đi buôn bán, già cả rồi chớ trẻ trung gì mà bươn chải!

– Để ra ngoải con gặp Bảy Trung xem sao? Thằng tệ thiệt. Bà con không giúp đỡ được gì thì cũng chào hỏi cho phải lẽ. Hay là nó không thấy mặt Dì Tư?

– Thấy chớ sao không. Nhưng thôi, nói làm gì con…

Chín Khánh lại nghe trong câu nói của Dì Năm có chút hờn dỗi, buông xuôi. Đành rằng công việc và trách nhiệm, đòỉ hỏi người cán bộ phải làm đúng chức năng, không thể thiên vị bất cứ ai. Còn tình nghĩa thì sao? Anh lại ngồi suy gẫm về bản thân mình. Thời gian qua liệu mình có vấp váp tình nghĩa bà con như trường hợp Bảy Trung hay không? Làm công tác ở ngành thu mua lương thực, hàng ngày Chín Khánh giao tiếp rất nhiều người, trong địa bàn tỉnh cũng có, các tỉnh bạn cũng có. Anh cũng có dịp gặp được người quen… nhưng ai ai anh cũng niềm nở, đón tiếp thật chí tình. Đôi lúc có so đo do giá cả “chỉ đạo”, nhưng đâu rồi cũng vào đó, qiải quyết thỏa đáng cả đôi bên. Cơ quan anh chưa bị tai tiếng gì, mà bản thân anh chưa nghe có vấn đề gì. Nhưng, nhân viên bung đi khắp nơi, không hiểu có ai làm điều gì sai trái mà anh chưa phát hiện được? Còn nếp sống, phải nhận thật là Chín Khánh và gia đình có chút đổi thay. Anh có khuyết điểm là “làm ngơ” một số vụ việc từ trong cuộc sống gia đình. Phải chăng “làm ngơ” như vậy đã tạo nên hố sâu ngăn cách giữa cán bộ với nhân dân? Sự đam mê công việc, hầu như “bao” lấy toàn bộ công việc về mình, có chủ quan quá không? Bao nhiêu câu hỏi cứ dồn dập hiện lên trong đầu. Chín Khánh không nói gì, có lẽ lâu lắm. Mãi đến khi chị Út bưng đèn lên đặt trên bàn thì anh mới chợt nhìn đồng hổ đeo tay: đã bảy giờ tối. Dì Năm tiếp tục ngoáy trầu và miệng nhai bỏm bẻm.

Mấy cây nhang trên bàn thờ anh Năm Ve toả khói, xông lên mùi hương thơm thơm. Chị Út là con dâu của Dì Năm vừa đặt cây đèn xong thì bước lại ngồi bên Mẹ. Bóng chị lung linh trong vách, cũng đối mặt với anh. Khi thằng Út hy sinh, hai vợ chồng chưa có đứa con nào, vậy mà chị vẫn ở vậy với mẹ chồng suốt bao năm qua. Lao động và nuôi mẹ chồng thật vẹn tình trọn nghĩa. Trên đời nầy, có biết bao hình tượng đáng phục như chị Út. Tấm lòng của người phụ nữ thủy chung với chồng thật tràn đầy, tràn đầy như con nước tháng chín tháng mười lớn lên, lềnh bềnh rồi lớn lên, không chịu ròng xuống.

Sự hy sinh của Dì Năm suốt mấy chục năm qua, hay đúng hơn là của những người Mẹ, những người Chị… trong suốt tháng năm dài chiến tranh gian khổ giống như con nước ròng. Nó cứ liên tục đổ ra, đổ ra mà không bao giờ muốn nhận lại cho riêng mình. Chín Khánh kịp nhận ra mình là một trong những đứa con được sinh ra và lớn lên trong lòng của từng con nước ròng đó, phải làm sao đáp lại thật vẹn toàn. Mỗi cán bộ như anh cũng phải thật sự như con nước ròng đối với bà con…, không thể để xa rời khỏi lòng bà con được!

Chín Khánh với tay lấy bao thuốc lá, rút một điếu bật lửa đốt. Anh đứng lên bước ra ngạch cửa. Ngoài trời, ánh trăng lưỡi liềm mờ mờ giống như đêm chia tay giữa anh với Năm Ve lần đó. Chín Khánh phóng mắt ra dòng sông. Mảng lục bình theo con nước ròng lờ đờ trôi. Bất chợt, anh quay lại nhìn Dì Năm và chị Út:

– Mười tám năm rồi. Nhanh quá phải không Dì Năm?

Cần Thơ, 13 tháng 8-1986

LÊ CẦN THƠ

a
Ketsana_0_300x211_1yenlabusinesscard211-300x171


About this entry