GIỚI THIỆU SÁCH

Tiến Sĩ ĐÀM TRUNG PHÁP

Giáo Sư Ngôn Ngữ Học
Texas Woman’s University

Giới thiệu sách mới

QUÊ HƯƠNG
XA MÃI
NGÚT NGÀN

Bút ký của LÊ CẦN THƠ

Tác giả tự xuất bản đầu năm 2000, không đề ấn phí
Địa chỉ liên lạc: 10430 Heather Hill Drive, Houston, TX 77086

quehuongxa
thoquehuong

Nỗi nhớ quê hương là một chủ đề văn chương dễ gây xúc động trong tâm tư người đọc từ trước đến nay, từ đông sang tây. Gần ba nghìn năm trước đây, vai chánh Ulysse trong thiên anh hùng ca “Odyssée” của thi hào Homère xứ Hy Lạp đã náo nức (và người đọc cũng náo nức lây vì chàng) được trở về quê cũ đoàn tụ với người vợ Pénélope thủy chung, sau hàng chục năm dài chinh chiến, với biết bao rằn vặt vì lòng hoài hương. Thi sĩ Thôi Hiệu đời Đường đã ray rứt với nỗi nhớ nhà trong bài thơ bất hủ “Hoàng Hạc Lâu” mà hai câu cuối Tản Đà đã chuyển ngữ thần tình sang ngôn ngữ chúng ta:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Gần đây hơn, trong thời kỳ lãng mạn tại nước Pháp, thi hào Lamartine trong bài “Vallon” đã thiết tha ôn lại những kỷ niệm nơi quê cũ trong một thung lũng nhỏ, với những con suối, những đường mòn, những bụi cây, những khung trời quen thuộc. Rồi thi nhân tự hỏi, phải chăng những vật vô tri giác đó cũng có một tâm hồn như chàng, khắng khít đến nỗi bắt tâm hồn chàng phải yêu chăng?
Objets inanimés, avez-vous donc une âme,
Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer?

Lê Cần Thơ cũng đã chọn chủ đề nhớ quê hương cho tập bút ký mà tôi hân hạnh được giới thiệu cùng quý độc giả. Anh không những đã mệnh danh cuốn sách một cách nên thơ là “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” mà anh còn vào tập với nhận định rằng “Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương nhưng không thể tách rời con tim khỏi quê hương được”. Tôi nghĩ nếu Homère, Thôi Hiệu, Tản Đà, Lamartine mà còn sống hôm nay thì họ cũng sẽ phải vỗ tay tán đồng nhận định ấy của anh thôi!
Thành tâm, tha thiết, cởi mở, hiếu hạnh, nhân ái, khiêm cung là những tính từ tôi chọn để mô tả phong thái viết văn của Lê Cần Thơ. Người đọc không thể không “thương” anh ngay tức khắc, vì trong phần vào tập anh đã khiêm tốn tâm sự “Tôi đã sống trong miền quê Trường Long nghèo khó từ thuở mới chào đời, đã hít thở không khí thôn dã quê mùa, nên trong cách nhìn, cách nghĩ của mình cũng không thoát khỏi cái phong vị nơi mình chào đời” (trang 9). Anh thành tâm trong việc quý mến và tôn vinh những tiền nhân khả kính trong vùng như cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa (tác giả bản tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên”), cụ Cử Nhân Phan Văn Trị (một nhà thơ yêu nước, nổi tiếng trong cuộc bút chiến với kẻ tay sai cho giặc Pháp mang tên Tôn Thọ Tường), cụ Thoại Ngọc Hầu (người có công lớn trong việc khai hoang lập ấp vùng Hậu Giang). Những lời nói, lời thơ hiếu hạnh anh dành cho thân phụ làm tôi xúc động mạnh. Người cha hiền lành phất phác ấy “cuộc đời ròng rã mấy mươi năm, vừa bám đồng ruộng để làm ra hạt lúa, vừa phải hằng đêm lặn hụp dưới sông rạch để bắt cá, nuôi sống cả gia đình”, và khi về già cũng đã phải “lặn lội tìm thăm” anh trong trại tù cải tạo ở Cai Lậy. Nghiệt ngã thay, khi anh được thả về nhà thì thân phụ đã qua đời được 49 ngày! Trong bài thơ “Ghe Đăng” viết tặng người cha quá vãng, anh chỉ ước mơ giản dị như sau mà định mệnh chẳng cho (trang 116):

Nếu phải non sông ngừng chiến trận
Yên vui thôn xóm rộn hoan ca
Con về bên chiếc ghe đăng cá
Sưởi ấm lòng ba lúc tuổi già…

Tuy anh khiêm tốn tự nhận mình chỉ “tập tành viết lách, lan man, chắp vá”, tôi thấy anh là một người kể chuyện khá sinh động và hấp dẫn. Là một người Hà Nội di cư vào Nam, tôi đã chỉ sống quanh quẩn ở Sài Gòn, cho nên cuốn bút ký của anh về miền Hậu Giang đã giúp tôi hiểu được nếp sống của đồng bào tại miền đất dễ thương ấy của quê hương chúng ta. Qua ngòi bút của anh, những địa danh, những nhân danh, những đất lề quê thói trong vùng quê hương anh hiện lên sống động. Tôi như được thấy tận mắt lối sống giản dị lành mạnh nơi anh sinh trưởng, qua những điều anh mô tả cách bắt chuột đồng bằng “dậm cù”, bắt lươn bằng “trúm”, bắt cá sặt bằng “lờ”, bắt chim bằng… lưỡi câu cá! Nhiều chuyện anh kể thực hấp dẫn và khó quên, nào là ông thầy giáo cũ bị ma quỷ ám té bất tỉnh trong lớp học (trang 107), nào là giọng ca trữ tình mùi mẫn bất hủ của Út Trà Ôn trong bản “Tình Anh Bán Chiếu” (trang 141),, nào là nỗi bất hạnh “đầu thai lầm thế kỷ” để đến nỗi bà con anh em ruột thịt bắn giết lẫn nhau trong cuộc chiến mới đây (trang 167).
Tôi đã thích thú trọn vẹn khi đọc bút ký “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” của Lê Cần Thơ, và vì vậy xin trang trọng giới thiệu tác phẩm rất đáng đọc này của anh vớI quý vị độc giả gần xa.

Tiến Sĩ ĐÀM TRUNG PHÁP

Giáo Sư Ngôn Ngữ Học

Texas Woman’s University

(trích tạp chí VĂN HOÁ VIỆT NAM số 10 – Mùa Thu 2000 (tr.160-162)

a
Công viên Bến Ninh kiều

Bến Ninh Kiều Cần Thơ năm 1965, nhìn từ Cầu tàu Hải Quân xuống Chợ Nhà Lồng. (Ảnh, Nguyễn Ngọc Thạch, Calgary, Canada)
yenlabusinesscard211-300x171


About this entry