<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>PHAN THANH GIẢN-ĐOÀN THỊ ĐIỂM CẦN THƠ, CALGARY, CANADA &#187; Văn học, nghệ thuật</title>
	<atom:link href="http://www.ptgdtdcanada.com/category/van-h%e1%bb%8dc-ngh%e1%bb%87-thu%e1%ba%adt/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.ptgdtdcanada.com</link>
	<description>KÍNH CHÀO TẠM BIỆT QUÝ THẦY CÔ, QUÝ NIÊN TRƯỞNG, QUÝ ĐỒNG MÔN.</description>
	<lastBuildDate>Thu, 25 Mar 2010 16:41:27 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.9.2</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>NỖI MÌNH CUỐI NĂM</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2010/02/05/n%e1%bb%97i-minh-cu%e1%bb%91i-nam/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2010/02/05/n%e1%bb%97i-minh-cu%e1%bb%91i-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 05 Feb 2010 17:45:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4841</guid>
		<description><![CDATA[SỔ TAY TRANG NHÀ
_________________________________________________________________
 Trần Bang Thạch
 NỖI MÌNH CUỐI NĂM

Cuốn lịch của năm Kỷ Sữu đang mõng dần. Không còn bao lâu nữa tờ lịch cuối sẽ bay đi. Chợt nghĩ đến thật nhiều điều. Có những điều &#8211; thật nhiều điều &#8211; mơ mơ, hồ hồ, không rõ tên, không định hình, định [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="color: #0000ff;">SỔ TAY TRANG NHÀ</span><br />
_________________________________________________________________<br />
<span style="color: #ff6600;"> Trần Bang Thạch</span></h2>
<h1><span style="color: #993366;"> NỖI MÌNH CUỐI NĂM</span><br />
<img class="alignleft size-thumbnail wp-image-4842" title="TL_oldmanthinking" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/02/TL_oldmanthinking-150x150.jpg" alt="TL_oldmanthinking" width="150" height="150" /></h1>
<h2>Cuốn lịch của năm Kỷ Sữu đang mõng dần. Không còn bao lâu nữa tờ lịch cuối sẽ bay đi. Chợt nghĩ đến thật nhiều điều. Có những điều &#8211; thật nhiều điều &#8211; mơ mơ, hồ hồ, không rõ tên, không định hình, định tướng. Nghĩ đến cuộc sống trước mặt? Nghĩ tới con, tới cháu, bà con quyến thuộc, thân hữu bạn bè? Nghĩ tới một quê hương ở xa? Nghĩ tới ngày về hưu? &#8230;Tất cả những điều này mình đã nghĩ nhiều rồi, nhiều ngày, nhiều năm rồi; đâu phải đợi đến những ngày năm cùn tháng tận này, bây giờ.</h2>
<h2>Vậy thì mình đang suy nghĩ điều gì? Có phải bắt nguồn từ một bài cổ thi vừa đọc được?</h2>
<h2>Nhân giai dục đắc trường niên thiếu</h2>
<h2>Vô ná bài môn bạch phát thôi</h2>
<h2>Nhất hướng phá sầu, sầu bất tận</h2>
<h2>Bách phương hồi tị lão tu lai</h2>
<h2>Trên đây là 4 câu đầu của bài Đường thi thất ngôn bát cú Tuế Vãn Tự Cảm của nhà thơ Vương Kiến (751-835). Bài thơ do 1 vị thầy cũ của Nhóm Thơ Thẩn Cho Vui của thầy trò chúng tôi gởi tới và thầy cũng đã cắt nghĩa từng câu và dịch toàn bài, 8 câu. Cá nhân tôi trước đây có đọc vài bài thơ của Vương Kiến nhưng chưa thấy bài này; hay đã thấy nhưng đọc vào những hoàn cảnh không gian, thời gian không thích hợp để tạo nên ấn tượng, kéo theo sự suy nghĩ của mình. Thầy Phạm Khắc Trí ơi, những ngày gần cuối năm và gần cuối đời của thầy lẫn trò mình, thầy đã giương cung nhả ra mũi tên Tuế Vãn Tự Cảm và bản dịch Nỗi Mình Cuối Năm làm trúng tim nhiều người. Phải là nhiều người vì đã có thơ phụ họa từ Hoa Kỳ, Việt Nam, Pháp, Úc&#8230;</h2>
<h2>Nỗi Mình Cuối Năm</h2>
<h2>PKT (Cuối năm Kỷ Sữu 2010)</h2>
<h2>Trẻ mãi suốt đời ai chẳng muốn,</h2>
<h2>Nhưng sao ngăn được tóc sương pha.</h2>
<h2>Sầu đong vô tận bao giờ cạn,</h2>
<h2>Già tránh trăm phương vẫn cứ già.</h2>
<h2>Những ngày cuối năm thường khiến cho người ta đếm tuổi và có những nỗi lo bâng quơ, cả những nỗi buồn mông lung. Nỗi mình cuối năm. Phải rồi! Những ngày này mình đã nghĩ nhiều đến nỗi mình, điều mà trước đây mình chưa hề nghĩ, hay nghĩ một cách rất lờ mờ khi cái tuổi của mình còn xanh, hay ngay cả lúc nó tròm trèm, trên dưới sáu mươi. Bây giờ thì mình đang lần mò bước qua mấy chặn đường đi đến cái đích &#8220;cổ lai hi&#8221; thì những câu thơ &#8221; Sầu đong vô tận bao giờ cạn&#8221; bay đến, ghim ngay vào cái bầu tâm sự của mình. Hỏi sao mà không suy nghĩ?</h2>
<h2>Cái trẻ thì không thể giữ mãi, cứ đi đi, được thôi. Vạn vật trên trái đất nầy có cái gì là không lão hóa. Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. Tóc sương pha thì cứ pha cho bạc trắng. Tóc bạc, da mồi chỉ sự sống lâu. Cái già muốn đến thì cứ đến, &#8220;cổ lai hi&#8221; mà! Chỉ có cái sầu là coi mòi không ổn. Có mấy ai càng già càng vơi cái sầu? Hình như cái sầu và cái lo ở tuổi già là anh em họ. Ai cũng muốn lánh xa cặp bài trùng này mà xem ra chẳng dễ. Càng già càng lo. Càng lo càng sầu. Tâm sầu bạch phát. &#8220;Nỗi mình&#8221; là ở đây. Cái lo cho mình có đó mà như đang ở đâu đâu, mênh mang trời đất, nó chạm vào tỉ tỉ nơ-rôn của mình bất cứ lúc nào, cho nên nó vô tận, nó cứ đầy. Nhiều cái sầu không tên không tuổi, không hình không tướng là vậy.</h2>
<h2>Hôm qua nhận một lá thư dài của một thầy cũ gởi từ Aulnay, Pháp quốc. Thầy viết: &#8221; Sống qua cái tuổi 60, được năm nào coi như được trời cho năm đó, kể như được thêm &#8220;bonus&#8221;. Thầy đã được &#8220;bonus&#8221; hơn chục năm rồi, còn các em chắc cũng được vài ba năm. Những năm &#8220;bonus&#8221; mình chỉ cần sống lành, sống đẹp, sống an lạc, thảnh thơi&#8230;Thầy tin tưởng ở &#8220;nhân quả&#8221;, mình gieo nhân tốt thì sẽ gặt hái được quả tốt&#8221;.</h2>
<h2>Nghĩ cho cùng cái sầu của mình là do cái lo. Lo cho mình thì ít mà lo cho người thì nhiều. Sống lành, sống đẹp là cách sống hai chiều: Lấy cái Nhân để sống lành cho người là đem về cái Quả nhãn tiền, chính là cái đẹp, cái an lạc, thảnh thơi cho mình. Sống như vậy thật không phải là dễ.</h2>
<h2>Biết là &#8220;Sầu đong vô tận bao giờ cạn&#8221; nhưng vẫn cứ nghĩ tới cái nỗi mình. Tuổi sắp thêm, sắp thêm &#8220;bonus&#8221; mà bao nhiêu cái lành, cái đẹp mình sẽ làm được đây trong những năm tháng tới để tạo cái nhân?</h2>
<h2>Cuối cùng, có lẽ sự lo nghĩ cuối năm &#8211; nỗi mình- là ở đó.</h2>
<h2>Nhưng trước mắt: Xin kính chúc mọi người hưởng được nhiều Niềm Vui, nhiều Hạnh Phúc và nhiều ơn phước của đất trời.</h2>
<h2>Cuối năm Kỷ Sữu 2010</h2>
<h2>TBT</h2>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2010/02/05/n%e1%bb%97i-minh-cu%e1%bb%91i-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>TRUYỆN NGẮN</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2010/01/21/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-13/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2010/01/21/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-13/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 22 Jan 2010 01:26:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4787</guid>
		<description><![CDATA[
 KHẮC KHOẢI
ĐÊM XUÂN

truyện
 DIỄM PHƯỢNG
Tiếng chuông gọi cổng reo lên, tôi nhìn qua song cửa sổ, khi nhận ra khách là người thanh niên còn trẻ, hoàn toàn xa lạ thì không khỏi ngạc nhiên. Thực ra, bạn của chồng tôi cũng rất nhiều, có điều từ ngày anh ấy chết cho đến nay [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><img class="alignleft size-full wp-image-4788" title="maidp" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/maidp.jpg" alt="maidp" width="250" height="200" /><br />
<span style="color: #0000ff;"> KHẮC KHOẢI<br />
ĐÊM XUÂN</span><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4789" title="dp" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/dp.jpg" alt="dp" width="250" height="290" /></h1>
<h1>truyện<br />
<span style="color: #ff0000;"> DIỄM PHƯỢNG</span></h1>
<h2><span style="color: #008000;">T</span>iếng chuông gọi cổng reo lên, tôi nhìn qua song cửa sổ, khi nhận ra khách là người thanh niên còn trẻ, hoàn toàn xa lạ thì không khỏi ngạc nhiên. Thực ra, bạn của chồng tôi cũng rất nhiều, có điều từ ngày anh ấy chết cho đến nay tôi không chịu tiếp ai cả. Tôi sợ phải phát khóc lên khi gợi lại chuyện của Hoài. Có lẽ họ cũng thông cảm nỗi lòng của người vợ trẻ, nên sau đám tang Hoài không còn ai dám lui tới nhà tôi nữa, một phần họ cũng hơi ngại sự dị nghị gièm pha của thiên hạ ở hai bên phố. Là một quả phụ còn trẻ, nhà cửa chẳng có ai ngoài Tố Quyên và chị bếp, tôi sợ điều tai tiếng nên mỗi lần có khách đến chia buồn, viện cớ không được khoẻ trong người, thế là yên thân.</h2>
<h2>Tự dưng hôm nay có một người khách mà tôi chưa quen, chưa biết, đến tìm, phiền phức ghê! Nhưng… dù sao tôi cũng phải ra mở cửa cổng xem anh ta cần điều gì, biết đâu họ chẳng đến lầm nhà. Nghĩ vậy, tôi vội vàng đứng lên bước ra sân và dừng lại ở thềm cửa. Thấy tôi, thanh niên thân mật gọi:</h2>
<h2>- Chị… anh Hoài có nhà không chị?</h2>
<h2>Tôi kinh ngạc nhìn trân khách. Người thanh niên nầy là ai? Tại sao lại biết cả tới tôi, trong khi tôi chưa gặp qua lần nào. Nếu là Huy – em chồng tôi – thì không đúng, vì ở khuôn mặt sạm nắng đó tôi chẳng tìm thấy một nét nào hao hao giống Hoài cả. Dù chưa gặp Huy, nhưng nhiều lần Hoài có cho tôi xem hình em trai anh nên dần dần tôi cũng thấy quen thuộc. Nếu bây giờ gặp chắc chắn tôi có thể nhận ra Huy một cách dễ dàng. Hình như cũng đoán được phần nào ý nghĩ của tôi, anh ta cười:</h2>
<h2>- Chắc chị đang cố nhớ xem đã gặp tôi lần nào chưa chớ gì? Chị ngạc nhiên cũng phải, đây là lần đầu tiên tôi gặp chị.</h2>
<h2>Tôi cúi đầu ngượng ngùng:</h2>
<h2>- Anh tha lỗi cho. Thực sự chưa lần nào tôi nghe anh Hoài nói gì về anh.</h2>
<h2>Sực nhớ khách đang đứng ngoài cổng rào, tôi vội nói:</h2>
<h2>- Chết, xin mời anh vào nhà, quên khuấy mất.</h2>
<h2>Bước đến gỡ then cài cổng, chừa một khoảng rộng cho anh ta đi qua, tôi khép nhẹ lại rồi lặng lẽ theo sau. Đợi chị bếp mang tách trà đặt lên bàn xong và quay vào, anh nói chậm rãi:</h2>
<h2>- Tôi là bạn học với anh Hoài lúc ảnh còn ở ngoài Huế, chúng tôi thân nhau lắm chị ạ! À quên, tôi tên là Triều.</h2>
<h2>Tôi ra chiều chăm chú nghe, Triều tiếp:</h2>
<h2>- Khi đậu xong bằng Tú Tài I, gặp lúc cả nước tổng động viên, tôi gia nhập vào quân đội. Học giai đoạn một chín tuần ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung rồi chuyển sang trường Bộ Binh Thủ Đức học giai đoạn hai. Ra trường tôi được về nguyên quán, một thời gian lại chuyển và Đà Nẵng. Hoài thư cho tôi chỉ có hai cái rồi mất liên lạc luôn. Cho đến khi tôi vào Sài Gòn gặp Huy, chú ấy kể lại chuyện anh Hoài, mới biết ảnh có gia đình ở Cần Thơ và không còn liên hệ với nơi ở cũ nữa. Muốn đi thăm anh Hoài từ lâu, nhưng chị biết đó, cuộc đời quân nhân rày đây mai đó khó có điều kiện đi xa lắm.</h2>
<h2>Nói đến đây, chợt Triều nín lặng nhìn đăm đăm lên bàn thờ thấy hình Hoài mờ sau làn khói hương.</h2>
<h2>- Chị… Hoài đã…</h2>
<h2>- Dạ, anh Hoài đã mất hơn sáu tháng nay rồi anh ạ!</h2>
<h2>- Không ngờ… chuyến vào Đà Nẵng của tôi là lần cuối cùng chúng tôi sống bên nhau những giây phút chia tay ngắn ngủi…</h2>
<h2>Mắt Triều long lanh. Anh bước đến bàn thờ Hoài cúi đầu, cắm ba cây nhang. Tôi ôm mặt khóc.</h2>
<h2>- Chị…</h2>
<h2>Triều quay lại và bước đến cạnh tôi.</h2>
<h2>- Xin lỗi chị, tôi đã gợi lại sự đau buồn.</h2>
<h2>Tôi ngẩng lên lắc nhẹ đầu:</h2>
<h2>- Không! Dù chẳng có anh gợi lại, thỉnh thoảng tôi vẫn thế. Vì cuộc đời tôi, anh Hoài là cả nguồn vui, lẽ sống, bây giờ…</h2>
<h2>Nước mắt tuôn dài trên má, tôi nấc lên:</h2>
<h2>- … Bây giờ còn gì nữa đâu? Ngoài Tố Quyên ra, tôi chẳng biết bám víu vào nơi nào. Gia đình bên chồng tôi đã từ bỏ ảnh khi chúng tôi quyết định chung sống với nhau…</h2>
<h2>Triều trở lại chỗ ngồi, trầm ngâm nghĩ ngợi. Lúc sau anh nói khẽ:</h2>
<h2>- Thôi, đừng buồn phiền nữa chị. Con người ai cũng mang sẵn một số mệnh. À, cháu đâu chị?</h2>
<h2>- Nó đi học rồi anh ạ!</h2>
<h2>Tôi có dịp may gặp Huy ở Sài Gòn, mới hỏi xin được địa chỉ. Nhưng có nghe Huy nói gì về Hoài đâu?</h2>
<h2>- Anh Hoài chết tức tửi quá, phần rối rắm, phần chúng tôi bị gia đình từ bỏ, tôi không dám báo tin!</h2>
<h2>- Chị xử sự như thế cũng không đúng…</h2>
<h2>Ngay khi đó tiếng Tố Quyên réo gọi ngoài cổng. Tôi bước ra đón con gái và bảo nó:</h2>
<h2>- Có khách của ba đến thăm. Con vào chào chú đi.</h2>
<h2>Tố Quyên gật đầu, bước đến bên Triều vòng tay một cách lễ phép:</h2>
<h2>- Cháu chào chú ạ!</h2>
<h2>Triều kéo Tố Quyên vào lòng, nựng nịu nó rất thân mật:</h2>
<h2>- Chị dạy cháu thật khéo.</h2>
<h2>- Anh quá khen.</h2>
<h2>Im lặng giây lâu, tôi đột ngột bảo:</h2>
<h2>- Anh ở đây dùng cơm với cháu nghe.</h2>
<h2>Triều mỉm cười hỏi Tố Quyên:</h2>
<h2>- Cho chú Triều ăn cơm với Tố Quyên không?</h2>
<h2>Dạ… thưa Quyên cho!</h2>
<h2>Triều cúi đầu hôn vào mắt bồ câu đen nhánh của Tố Quyên. Tự nhiên tôi nghe như có tiếng thở dài. Tôi quay bước, không muốn nhìn đến cảnh thân thích của Triều với Tố Quyên, vì… một ý nghĩ vừa thoáng qua tư tưởng là tôi sợ hãi không dám trông lên bức ảnh Hoài.</h2>
<h2><span style="color: #008000;">Đ</span>ược nghỉ những ngày phép trước Tết, Triều đáp xe xuống Cần Thơ tìm đến tôi ngay. Anh bảo rất nhớ Tố Quyên và xin được ở lại đây xem chợ Tết, chiều hai mươi chín phải trở ra đơn vị. Tôi hỏi sao Triều không về thăm gia đình, anh nói đường xa, ngày phép lại quá ít, mất công đi lại thêm buồn lòng mẹ! Tôi khó nghĩ quá. Nếu từ chối không cho Triều ở lại sợ anh hiểu lầm. Nhưng nhận lời lại càng rắc rối cho hoàn cảnh đơn chiếc của tôi. Chị bếp đã xin nghỉ Tết về quê rồi. Thấy dáng điệu ấp úng của tôi, Triều mỉm cười:</h2>
<h2>- Chị thấy tôi ở đây có làm phiền gì chị không?</h2>
<h2>Tôi nghe lòng rối rắm nhưng cũng đáp bừa:</h2>
<h2>- Có gì đâu, anh mà ăn bao nhiêu.</h2>
<h2>- Ý, chị quên là lính ăn cơm dữ lắm nghe.</h2>
<h2>Tôi cười:</h2>
<h2>- Điều đó đừng lo, tôi sẽ nấu thừa cho anh.</h2>
<h2>Dù muốn hay không tôi cũng khó thể từ chối. Thôi đành để Triều ở lại. Bất quá tôi phải dè dặt hơn trước. Tôi luôn tránh nói chuyện nhiều với Triều lúc không có Tố Quyên ở đó. Trước mặt Triều tôi bỗng thấy mình mất hẳn bản tính tự nhiên. Chiều nay trong bữa cơm, Triều nhìn tôi thật lâu, anh bảo:</h2>
<h2>- Mai tôi phải về đơn vị. Tối chị đưa Tố Quyên đi chợ Tết mua sắm ít đồ cho cháu nghe!</h2>
<h2>- Mai anh đi à? Thôi, chả cần mua gì cho cháu, tôi đã lo đủ rồi.</h2>
<h2>- Nếu không mua sắm chị cũng phải đưa cháu đi xem chợ Tết chớ, tôi muốn đi để mai về.</h2>
<h2>- Thế anh đưa cháu đi. Tôi sợ chỗ đông người, chẳng thích đâu.</h2>
<h2>Triều cúi xuống dùng nốt phần ăn trong chén cơm còn lại, đọan đứng lên. Tôi ngạc nhiên:</h2>
<h2>- Sao anh dùng ít vậy?</h2>
<h2>Quay lại, Triều nhìn sâu vào mắt tôi:</h2>
<h2>- Tôi… không thấy đói nhiều.</h2>
<h2>- Nhưng cũng phải dùng ít nhất hai chén chớ. Ăn như anh lúc hành quân thì đói rã ruột.</h2>
<h2>Triều cười, vẫn không rời đôi mắt dán chặt vào tôi. Đâm ngượng, tôi cúi đầu ăn một cách vụng về, lúng túng. Ngay lúc đó, Tố Quyên hiện ra nơi khung cửa, nó kêu lên:</h2>
<h2>- Má, làm gì chú Triều ngó má dữ vậy?</h2>
<h2>Tôi đỏ mặt, trong khi Triều cũng hoảng hốt nhìn Tố Quyên ngượng ngập:</h2>
<h2>- Tố Quyên… lại đây chú biểu.</h2>
<h2>Ngoan ngoãn, Tố Quyên bước đến bên Triều. Vuốt mái tóc dài loà xoà màu hung hung đỏ của cô bé, Triều hỏi:</h2>
<h2>- Quyên có thương chú không?</h2>
<h2>- Thương.</h2>
<h2>- Quyên có thích chú ở mãi bên Quyên không?</h2>
<h2>- Dạ thích!</h2>
<h2>- Nhưng mai chú đi rồi.</h2>
<h2>- Sao chú lại đi?</h2>
<h2>- Chú đi rồi chú sẽ về và… sống mãi bên Quyên. Quyên hỏi má có chịu hông?</h2>
<h2>Quyên chạy lại bên tôi, nắm tay:</h2>
<h2>- Chú Triều ở mãi bên con, má chịu hông?</h2>
<h2>Tôi lườm nó trách yêu:</h2>
<h2>- Đừng vòi vĩnh, má không cưng đó.</h2>
<h2>Tố Quyên đứng yên, nét mặt buồn hiu. Thấy thế, tôi vội bảo:</h2>
<h2>- Làm gì “bí xị” vậy? Thì con gái má đòi gì má cũng chiều hết.</h2>
<h2>Đột nhiên Tố Quyên reo lên:</h2>
<h2>- A! Má cho chú Triều ở với má, ở với con rồi. Chú mừng không?</h2>
<h2>Tôi và Triều chợt xấu hổ vì câu nói vô tình, không khéo của Tố Quyên. Không hẹn mà cả hai đưa mắt lườm Quyên và cúi đầu bẽn lẽn.</h2>
<h2><span style="color: #008000;">N</span>hững ý nghĩ về chuyện xảy ra lúc chiều vẫn còn xáo trộn tâm tư tôi. Triều lại ngỏ ý một lần nữa về chuyện đưa Tố Quyên đi chợ Tết, tôi lắc đầu từ chối và đồng ý để anh đưa Tố Quyên đi. Tôi làm sao dám sánh bước bên Triều một cách thân mật ngoài đường phố, mặc dù đã có Tố Quyên, nhưng tôi vẫn lo sợ người ta nhìn thấy sẽ bàn tán… Hơn nữa, những con đường dẫn đến chợ quá quen thuộc, nơi đó nhiều dấu chân Hoài đã đi qua, gợi biết bao kỷ niệm. Tết năm ngoái, Hoài vẫn còn vui vẻ sống bên tôi và Tố Quyên. Lúc ấy con bé chỉ có bốn tuổi, nũng nịu với cha không ai bằng. Đi chợ nó đòi mua đủ thứ, tôi doạ sẽ đánh đòn thì Hoài đã bênh vực con. Đôi lúc tôi phát cáu lên vì Hoài quá thương và chiều con bé. Nhưng sau đó tôi lại thấy sung sướng và thầm cám ơn đấng thiêng liêng đã ban cho tôi nguồn hạnh phúc vô biên. Hoài quả là người đàn ông rất đáng yêu, bản tính chàng rất hoà nhã, lúc nào cũng lo lắng cho tôi và Tố Quyên được ấm no, đầy đủ. Tôi không ngờ cuộc sống của Hoài thật ngắn ngủi. Năm năm chung sống bên nhau tôi đã hưởng trọn vẹn tình yêu của anh, không phút giây nào có thể cho tôi sự hờn giận hay hối tiếc. Đến lúc Hoài sắp sửa ra đi vĩnh viễn, anh vẫn lo lắng cho cuộc đời của tôi và Tố Quyên sau nầy. Hồi tưởng lại những ngày qua, tôi cảm thấy như mình đã phạm tội với Hoài. Tại sao tôi cứ nghĩ đến Triều? Tại sao tình cảm tôi lại dễ dàng chấp nhận hình ảnh một người con trai khác? Tôi không phản bội Hoài, phản bội niềm tin của Tố Quyên. Tôi phải giữ trọn vẹn tấm tình cao đẹp, trong sạch, suốt đời cho người chồng đã chết, cho gia đình bên chồng tôi một ngày nào đó phải chấp nhận tôi là con dâu.</h2>
<h2>Khắc khoải, bâng khuâng, tôi nằm thao thức mãi đến lúc nghe tiếng Tố Quyên nói chuyện với Triều ngoài phòng khách:</h2>
<h2>- Chú Triều dạy Quyên đốt pháo nha.</h2>
<h2>- Thôi để mai hẵng đốt. Giờ Quyên đi ngủ sớm.</h2>
<h2>- Hông, Quyên chưa buồn ngủ mà.</h2>
<h2>- Đốt pháo làm má thức rồi sao? Ngoan đi Quyên, chú thương nhiều.</h2>
<h2>- Má chưa ngủ mà!</h2>
<h2>- Sao Quyên biết?</h2>
<h2>- Chú quên là má còn để đèn trong phòng sao?</h2>
<h2>Triều cười nhỏ. Tôi uể oải ngồi dậy bước ra ngoài. Tố Quyên nheo mắt với Triều:</h2>
<h2>- Đó, chú Triều tin Quyên chưa?</h2>
<h2>Triều không đáp, anh nhìn sững tôi. Vờ như không chú ý, tôi bảo con:</h2>
<h2>- Giờ đi ngủ nha Quyên, mai dậy sớm tiễn chú Triều đi chớ!</h2>
<h2>- Chú Triều không ở đây ăn Tết với Quyên sao?</h2>
<h2>- Chú bận… nhưng chú sẽ về thăm Quyên nữa.</h2>
<h2>- Thiệt nha!</h2>
<h2>Tôi nhìn những gói đồ bày la liệt trên bàn. Triều khẽ nói:</h2>
<h2>- Chỉ có vài món quà nhỏ cho Tố Quyên.</h2>
<h2>- Anh mua chi vậy? Tôi đã bảo Tố Quyên có đủ cả rồi.</h2>
<h2>-Đồ chị mua khác, tôi mua khác.</h2>
<h2>- Anh lại bày vẽ.</h2>
<h2>Tôi đưa Tố Quyên vào phòng dỗ nó ngủ. Con bé vẫn còn tíu tít, tôi phải gắt lên nó mới chịu nằm yên.</h2>
<h2>Ánh đèn nê ông ngoài phòng khách tắt, bóng tối chạy dài và lan rộng. Đợi Tố Quyên ngủ xong tôi bước xuống giường định gài cửa phòng lại cẩn thận. Chợt, một bóng đen chặn ngang lối ra làm tôi suýt rú lên. Nhưng, nhanh hơn, bóng đen đưa tay che miệng tôi lại và bảo nhỏ:</h2>
<h2>- Triều đây, đừng làm Tố Quyên thức giấc.</h2>
<h2>Tôi bình tâm khi nghe giọng nói quen thuộc của Triều để rồi bàng hoàng, lo ngại. Tôi nói:</h2>
<h2>- Anh vào đây làm gì?</h2>
<h2>Triều bịt miệng tôi lại. Anh trầm giọng tha thiết:</h2>
<h2>- Tố Vân, tôi… không thể nào quên Vân được…</h2>
<h2>- Xin anh…</h2>
<h2>Tôi không nói được tròn câu vì vòng tay của Triều đã siết chặt, hơi thở dồn dập của anh nhả vào mặt làm tâm hồn tôi bấn loạn. Triều cúi thấp xuống, tôi chống chỏi một cách yếu ớt. Hai chiếc nút áo phần trên sút ra, dưới ánh sáng lờ mờ, khoảng ngực lộ hẳn. Môi Triều đặt vào đó cái hôn dài say đắm. Vòng tay anh càng siết chặt tôi hơn. Chiếc nút áo thứ ba sắp rời ra. Chợt tiếng khóc nấc lên của Tố Quyên trong cơn mê ngủ làm cả tôi lẫn Triều giật mình buông nhau ra.</h2>
<h2>- Má… má… con sợ ma má ơi!</h2>
<h2>Tôi vùng chạy đến bên giường kéo Tố Quyên vào lòng dỗ nó. Tự nhiên hai hàng nước mắt ứa ra, tôi gục đầu vào mặt con nấc lên.</h2>
<h2>Cần Thơ, vào xuân 1969</h2>
<h1><span style="color: #0000ff;">DIỄM PHƯỢNG</span></h1>
<p><img class="alignleft size-full wp-image-4790" title="a" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/a3.gif" alt="a" width="467" height="17" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4791" title="yenmai" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/yenmai.jpg" alt="yenmai" width="300" height="187" /><img class="alignleft size-full wp-image-4792" title="yenlabusinesscard211-300x171" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/yenlabusinesscard211-300x1713.jpg" alt="yenlabusinesscard211-300x171" width="350" height="199" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2010/01/21/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-13/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>TRUYỆN NGẮN</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2010/01/20/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-12/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2010/01/20/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-12/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 21 Jan 2010 00:59:33 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4776</guid>
		<description><![CDATA[
 NGƯỜI ĐI TÌM
 CHÂN DUNG

truyện
 LÊ CẦN THƠ
“…Ba Hoàng đang nằm trên chiếc võng mắc qua hai cây gáo, xung quanh là đám lá chuối rậm, bỗng nghe tiếng máy bay. Anh ngồi bật dậy, trèo lên cháng ba cây gáo quan sát. Chiếc “đầm già” từ hướng Cần Thơ như một chấm đen [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><img class="alignleft size-full wp-image-4804" title="416072706_8213697d5e" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/416072706_8213697d5e1.jpg" alt="416072706_8213697d5e" width="250" height="188" /><br />
<span style="color: #0000ff;"> NGƯỜI ĐI TÌM</span><br />
<span style="color: #ff00ff;"> CHÂN DUNG</span><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4778" title="vien" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/vien.jpg" alt="vien" width="250" height="321" /></h1>
<h2>truyện<br />
<span style="color: #800000;"> LÊ CẦN THƠ</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em><span style="font-weight: normal;">“…Ba Hoàng đang nằm trên chiếc võng mắc qua hai cây gáo, xung quanh là đám lá chuối rậm, bỗng nghe tiếng máy bay. Anh ngồi bật dậy, trèo lên cháng ba cây gáo quan sát. Chiếc “đầm già” từ hướng Cần Thơ như một chấm đen mút tận trên cao, bay thẳng vào nơi đơn vị anh đang đóng quân. Tất cả được nhanh chóng báo động và chuẩn bị tư thế chiến đấu. Ba Hoàng gọi Lạc – liên lạc viên – đang giữ máy truyền tin “mở máy liên lạc với bộ chỉ huy”. Anh vẫn ngồi trên cành gáo. Chiếc đầm già bay thật cao phát xuống một giọng nữ tâm lý chiến nghe rõ mồn một:</span></em></span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Các anh cán binh cộng sản thân mến,</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Chánh phủ Quốc Gia sẵn sàng đón nhận các anh trở về với cộng đồng dân tộc. Các anh hãy mang vũ khí về giao nạp sẽ được trọng thưởng và sớm được sum họp gia đình… Các anh hãy nhận tờ giấy bạc nầy, đến bất cứ cơ quan nào hay đồn bót nào cũng được tiếp đón nồng nhiệt. Chúng em lúc nào cũng mong đợi các anh…</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Các anh…</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>Lời phát ra cứ lặp đi lặp lại như vậy. Tiếp theo là những tờ truyền đơn bươm bướm bay tung ra, lấp lánh trong ánh nắng trưa gay gắt giữa cánh đồng Chệt Thợ. Ba Hoàng tỏ vẻ bực dọc nhưng lòng lại lo lắng bồn chồn. Trên cao, chiếc đầm già cứ thẳng hướng bay đi trên một độ cao ngoài tầm sát hại của đạn bắn thẳng, theo đường chim bay mất hút về hướng tây. Cả đơn vị Ba Hoàng nhao nháo lên với nhiều lời bình phẩm đúng sai của lời kêu gọi và tờ truyền đơn hình dáng của tờ giấy bạc vừa rơi lả tả xuống mặt đất. Ba Hoàng là C trưởng cứ thấp thỏm lo âu cho tinh thần binh lính trong đơn vị mình, nên gọi Sáu Tâm, chính trị viên, để trao đổi:</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Đề nghị “đồng chí” triển khai rồi bám sát từng chiến sĩ. Đừng để anh em hoang mang rồi bị lung lạc bởi những lời kêu gọi đó. Yêu cầu anh em không được thu nhặt hay lén cất giữ tờ truyền đơn. Phải bằng nghiêm lệnh mới được.</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Nhất trí với đồng chí. Nhưng trong vấn đề nầy, mỗi cán bộ chúng ta phải có trách nhiệm theo dõi ngầm thì hay hơn. Cảnh giác là việc chung không thể chủ quan được.</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>Dù Ba Hoàng và Sáu Tâm theo dõi và làm công tác tư tưởng trong đơn vị thường xuyên, vậy mà tuần lễ sau, hai chiến sĩ đã trốn bỏ đơn vị ra “chiêu hồi” tại đồn Tràu Hôi. Sĩ-sún đánh cắp 4 trái lựu đạn với khẩu CKC và Phước-lùn mang khẩu trường bá đỏ với một trái mìn nội hoá giao cho đồn để xin chiêu hồi. Sau đó được phỏng vấn thu băng và phát lời kêu gọi đồng đội với tên đơn vị và Ba Hoàng – Sáu Tâm nữa., lời kêu gọi qua giọng của Sĩ-sún và Phước-lùn được phát liên tục đến mấy ngày liền trên chiếc đầm già chứng tỏ cả hai ra chiêu hồi được an toàn! Sau đó, một cuộc hành quân tảo thanh lớn vào vùng kinh Chệt Thợ nhưng không tìm được bóng dáng ai, bởi đơn vị của Ba Hoàng được lệnh chuyển quân trước đó một ngày. Rút kinh nghiệm và nghiêm khắc nhận lấy trách nhiệm về mình, Ba Hoàng nghe đau xót vô cùng. Hai “đồng chí” đã từng vào sanh ra tử với mình suốt bao nhiêu năm, chỉ vì không thể tiếp tục chịu đựng gian khổ, hay một phút nào đó bị mất lập trường nên đã quay lưng bỏ đồng đội. Ba Hoàng tự đánh giá lại toàn bộ từng chiến sĩ để kịp thời xây dựng, uốn nắn làm sao cho đơn vị thật sự vững mạnh. Bao nhiêu chiến sĩ trong đơn vị là bấy nhiêu mảng đời, cứ hiện lên trong anh, nó như sợi dây xích ràng buộc chặt vào nhau khó thể tách rời được. Vậy mà Sĩ-sún và Phước-lùn đã tự bứt rời ra… “Cảnh giác là việc chung, không thể chủ quan được”. Rõ ràng Sáu Tâm đã khẳng định với anh như vậy. Nhưng anh có chủ quan bao giờ đâu? Anh cũng không đổ lỗi cho ai, bởi trong báo cáo gởi về trên, anh đã nghiêm khắc nhận trách nhiệm rồi còn gì?</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>Ba Hoàng đã có lần bàn bạc với Sáu Tâm về cách đánh giá từng chiến sĩ trong đơn vị. Theo anh, để có một mẫu người toàn vẹn, trước hết anh ta phải luôn có tư tưởng đúng và tình cảm đẹp, có lối sống lành mạnh, giản dị, đầy đủ nhiệt tình trong công tác, thật thà, dũng cảm, biết quý trọng và bảo vệ tài sản chung, có lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm chiến đấu vì độc lập tư do của tổ quốc, có tình thương yêu sâu sắc với đồng bào và đồng đội. Biết đoàn  kết hợp tác, giúp đỡ nhau trong chiến đấu và lao động… Đặc biệt là anh ta phải biết “quên mình”. Quên mình, anh muốn nói ở đây là làm đúng, làm tốt thì tư tưởng đừng bao giờ nghĩ phải được khen thưởng, đền bù, đãi ngộ xứng đáng với thành quả mình đã đạt. Dù là ý nghĩ “so đo” chỉ thoáng qua trong tâm tưởng anh ta, cũng chưa thể đánh giá tốt về anh ta được. Sáu Tâm cho rằng, đòi hỏi như vậy quá lý tưởng, bởi vì trong cuộc sống hiện tại, nhất là trong chiến đâu đầy gian khổ, ai mà không ao ước mình sẽ làm được một cái gì xứng đáng. Đã nói xứng đáng thì điều kiện kèm theo là phải được đánh giá đúng mức. Khi trong tâm tưởng có thoáng qua như vậy thì khó kiếm được mẫu người như Ba Hoàng muốn tìm. Ba Hoàng lại nói với Sáu Tâm “Đãi cát tìm vàng. Ta thử khắt khe như vậy xem sao!”. Cả hai cùng cười. Đêm trao đổi đó, Ba Hoàng và Sáu Tâm ngồi dưới gốc dừa thấp thoáng ánh trăng non. Cả đơn vị rải quân đều trên ngọn rạch Ông Hào, chờ giao liên để chuyển sang địa bàn mới. Ánh trăng xuyên qua kẽ lá, chiếu nhờ nhờ xuống mặt đường loằng ngoằng, cỏ hoang mọc cả lối đi. Nhà cửa hoang phế kể từ khi máy bay B52 ném bom sập nhà thờ họ đạo Ông Hào hồi năm 1965, bà con phải tản cư, bỏ lại nhà cửa ruộng vườn để đến tạm sống tại một nơi nào đó. Bây giờ loáng thoáng cả con rạch, chỉ có mấy căn chòi nhỏ dựng lên của các ông già bà lão vì thương nhà, thương đất nên ban ngày lủi thủi về với buồng chuối trái dừa, ban đêm lại đi để được an thân. Không có một bếp nấu, một lu nước uống…</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>Trong ánh trăng, khuôn mặt xương để lộ vầng trán cao của Ba Hoàng, đã hiện lên lõm sâu của đôi mắt. Anh đang nhìn dòng nước đầy dưới lòng rạch. Mấy về lục bình theo con nước lớn lô nhô những chiếc lá đọng sương đêm, chiếu lấp lánh bởi ánh trăng nhàn nhạt. Chợt Sáu Tâm hỏi nhỏ:</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Anh Hoàng, anh thấy Hai Phát thế nào?</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Về mặt nào?</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Về mặt đánh giá như mẫu người anh phác hoạ đó!</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>Ba Hoàng chú ý ngay đến cách xưng hô của Sáu Tâm. Là chính trị viên đại đội, Sáu Tâm thường xuyên tiếp xúc và nói chuyện với anh em, lúc nào anh cũng dùng hai tiếng “đồng chí” để xưng gọi. Ít khi anh quên mất hai tiếng thiêng liêng đó. Vậy mà đêm nay, dột nhiên Sáu Tâm lại gọi “anh Hoàng”. Phải chăng, có một phút nào đó, trong tận cùng sâu thẳm của tình cảm, người ta tự nhiên phát ra điều mà bình thường mình ít nghĩ tới?</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>Thay vì trả lời, Ba Hoàng hỏi lại:</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Theo đồng chí đánh giá Hai Phát ra sao?</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Hai Phát đúng là mẫu người mà anh muốn tìm. Cậu ấy còn trẻ, gan dạ, xông xáo, tác phong đạo đức tốt… nghĩa là tương đối như anh gợi ý!</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Theo tôi thì chưa được như vậy. Tôi đang nghĩ đến đồng chí Hai Ốm. Dù so về thành tích thì chưa bằng Hai Phát, nhưng đồng chí ấy đáng để ta quan tâm.</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>-  Anh có thể nêu cụ thể dẫn đến quan tâm xem sao?</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Này nhé, nếu so sánh hai đồng chí ấy, ta thấy có hai điểm khác biệt nhau về cách suy nghĩ. Đồng chí Hai Phát luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, tác phong đạo đức không chê vào đâu, nhưng theo tôi đồng chí ấy đôi lúc còn hiện lên tâm trạng so bì. Chẳng hạn, mỗi lần tuyên dương khen thưởng, dù đồng chí ấy có được đề bạt và nhân lãnh, nhưng vẫn thấy chưa được hài lòng “đáng lý cao hơn một chút” hoặc “xếp ngang hạng như vậy nó làm sao ấy!”. Có nghĩa là đồng chí Hai Phát vẫn còn tư tưởng “vì mình” nhiều quá! Trái lại đồng chí Hai Ốm cũng có nhiều thành quả trong mọi công tác, nhưng ta chưa bao giờ nghe đồng chí bày tỏ có ý than phiền trách móc gì. Rất bình thản xem như chấp nhận cái mà mình có được…</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Tôi chưa đồng quan điểm nhận xét đánh giá như vậy. Thái độ “bất cần” và “an phận” chưa thể chấp nhận được. Con người mới phải có tư thế tiến công, phải thẳng thắn và nói thật mọi suy nghĩ của mình. Nói thẳng và nói thật mọi suy nghĩ nhằm xây dựng chung đâu phải là khuyết điểm mà ta lại đánh giá vì mình, là yếu?</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>- Đó cũng là một vấn đề, một ý kiến. Ở đồng chí Hai Phát, tôi còn thấy lời phát biểu không chính thức, tức là còn linh tinh trong giao tế. Đành rằng nói chơi, nhưng chính lời nói chơi đó mà đồng chí ấy vẫn chưa thể cho chúng ta nắm bắt để làm mẫu chân dung được. Đồng chí cố nghĩ và giúp tôi, chúng ta thử phác họa xem, một mẫu người như thế nào để được đánh giá toàn vẹn nghe! Có được mẫu người như vậy, chúng ta sẽ đem ra điển hình và xây dựng đơn vị…</em></span></h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em>Ba Hoàng và Sáu Tâm cắt ngang câu chuyện ở đây, khi Lạc chạy lại báo cáo, đã có giao liên đến dẫn đường. Trăng đã nghiêng khỏi đầu và ánh sáng càng vằng vặc, sương đêm thấm lạnh nhiều hơn.</em></span></h2>
<h2>Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần phác thảo một truyện ngắn của tác giả Sáu Vọng viết dang dở trên đây. Sáu Vọng đã chết trong trận tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, khi anh cùng đồng đội hướng một mũi vào thành phố Cần Thơ. Trang phác thảo nầy tôi đã được một người bạn là Tr. uý Trần Nghiên X. của tiểu đoàn 4X. BĐQ nhặt được trong “ba-lô con cóc” của một cán binh VC chết nằm trên mé Rạch Bần, thay vì giao lại đơn vị an ninh để khai thác tài liệu, anh giữ lại tặng cho tôi khi anh biết tôi thích nghiên cứu và tập viết văn. Hôm gặp nhau, anh nói đã đọc đi đọc lại nhiều lần bản thảo dang dở nầy: <span style="color: #0000ff;"><em><span style="font-weight: normal;">“dù là bản thảo viết tay, nhưng Sáu Vọng có nhiều ghi chép và suy nghĩ đặc biệt, có mộng lớn lắm”</span></em></span>. Ở đó, Sáu Vọng muốn đi tìm một mẫu người “tài đức vẹn toàn” trong cuộc sống. Tiếc là Sáu Vọng chết quá sớm. Nếu còn sống đến hôm nay, chắc anh ta đã tìm ra được mẫu người đó rồi. <span style="color: #0000ff;"><em><span style="font-weight: normal;">“Hay là… cậu thử viết tiếp đi!”</span></em></span>. Tôi cười: <span style="color: #0000ff;"><em><span style="font-weight: normal;">“ Khó lắm anh X. ơi. Viết không có chiều sâu, người ta cười rồi cho là mình khéo vẽ vời, lý tưởng hão!”.</span></em></span></h2>
<h2>Dù nói như vậy, nhưng trong tâm trí tôi cứ ám ảnh mãi trang phác thảo của tác giả Sáu Vọng  – một cây viết đã sống và chết, viết dang dở về mẫu người ở phía bên kia chiến tuyến từng đối mặt với tôi –. Tuyến nhân vật và sự suy nghĩ như Ba Hoàng, Sáu Tâm có thật bên cạnh cuộc sống của anh ấy hay không? Cái ước muốn của Ba Hoàng hay nhận định của Sáu Tâm có phải chính là suy nghĩ của Sáu Vọng không? Trong cuộc sống hôm nay, ngày càng hiện ra nhiều bông hoa tươi thắm. Gương người tốt việc tốt cứ đọc thấy trên báo, nghe trên đài phát thanh giới thiệu hàng ngày, họ có thêu dệt hay không, tôi không biết. Những bông hoa sáng chói đó có đúng như mong ước của Sáu Vọng? <span style="color: #993366;"><em><span style="font-weight: normal;">“Mình sống vì mọi người”</span></em></span> đã là phương châm của con người mới, nhưng có thật trong tâm trí của mỗi con người chưa hề nghĩ đến cá nhân mình? Nếu đã nghĩ về mình thì đã không đáp ứng yêu cầu của nhân vật Ba Hoàng mà Sáu Vọng muốn dựng lên. Cái rỗng tuếch, không cần thiết… Phải đề cập một vấn đề mông lung nghĩ cũng chán, nhưng tôi cứ mãi suy nghĩ về nó. Tôi lại đi vào vòng tìm kiếm quẩn quanh của cuộc sống mình, những mẫu người như Sáu Vọng phác thảo. Bạn bè trách tôi sao viết văn khô khan, nhạt thếch. Chính tôi cũng nhận biết như vậy. Nhưng đó cũng do mạch văn của một con người. Mình có muốn trau giồi, gọt dũa cách mấy, cũng phảng phất mạch văn khô khan, nhạt thếch như vậy. Có tiến xa là về nhận thức tư tưởng, về đề tài bắt gặp quanh cuộc sống có đáp ứng yêu cầu người đọc hay không? Thường thì những bài viết nói thẳng nói thật các mặt tiêu cực trong cuộc sống rất được bạn đọc khen, tán thưởng. Những bài viết đưa lên hình tượng lý tưởng nào đó ngoài xã hội quá hiếm hoi thì bị chê. Tôi vẫn biết điều đó, nhưng nếu trong cuộc sống, ta không dựng lên những mô hình đặc biệt, cũng như Sáu Vọng đã qua nhân vật Ba Hoàng muốn có một mẫu người <span style="color: #993366;"><em><span style="font-weight: normal;">“tài đức vẹn toàn”</span></em></span> theo cách nghĩ của anh ấy, thì không có vấn đề đặt ra thật khó xử đối với tôi.</h2>
<h2>Lời anh bạn Trần Nghiên X. gợi ý: <span style="color: #0000ff;"><em><span style="font-weight: normal;">“Hay là cậu viết tiếp đi!”</span></em></span> cứ ám ảnh tôi. Nhưng – lại chữ nhưng quái ác – cứ đeo đẳng, cho nên tập bản thảo viết tay của Sáu Vọng ám ảnh tôi nhiều năm sau nầy. Khi miền Nam bị cưỡng chiếm, tôi bị vào tù cải tạo gần sáu năm, rồi được thả ra để tiếp tục sống trong nỗi cùng cực tận đáy xã hội, chạy xe đạp ôm lê lết để gia đình sinh sống, tôi mới có dịp gặp lại người bạn học cùng lớp cũ năm xưa – Bảy Trung. Một dịp thật tình cờ, tôi chở Bảy Trung cuốc xe từ đèn ba ngọn tại đầu đường Ngô Quyền lên cầu bắc Cần Thơ buổi tối, anh nhìn ra tôi và mời tôi uống cà phê trước khi chia tay. Hỏi thăm nhau trong tình nghĩa bạn đồng môn năm xưa, tôi mới biết anh bỏ học vào khu và nay trở ra làm Phó Giám Đốc một công ty của ngành xây dựng. Anh đã kể với tôi trận đánh ác liệt ở Kinh Thác Lác năm xưa, anh tham dự lúc 28 tuổi, là Tiểu Đoàn Trưởng trẻ nhất của khu Tây Nam Bộ, còn sống sót. Tôi lại tò mò hỏi anh, hồi năm Mậu Thân anh ở đâu? Anh bảo có tham gia tấn công vào Cần Thơ và yểm trợ đội công tác nội thành của Tư Cầu khi đột nhập khu vực Rạch Bần – Tham Tướng. Chợt nhiên nhớ lại trang bản thảo của Sáu Vọng, tôi hỏi anh với ý nghĩ “cầu may”. <span style="color: #0000ff;"><em><span style="font-weight: normal;">Đơn vị anh tấn công vào khu vực đó, có ai tên Sáu Vọng không? – Sáu Vọng?</span></em></span> Bảy Trung hỏi lại. Tôi gật đầu. Trố mắt nhìn tôi hơi ngạc nhiên, anh trầm giọng: <span style="color: #0000ff;"><em><span style="font-weight: normal;">Sáu Vọng là chiến sĩ nhưng có“khiếu viết lách” của đơn vị tôi. Cậu ấy chết trong trận Mậu Thân. Nhưng sao anh biết? </span></em></span>Tôi đáp: <span style="color: #0000ff;"><em><span style="font-weight: normal;">Một dịp may tình cờ. Anh có thể kể tôi nghe về con người đó được không?</span></em></span></h2>
<h2>Có lẽ bối cảnh hạnh ngộ khá hi hữu của hai người bạn học cùng lớp của trường Phan Thanh Giản năm xưa, sau nhiều năm xa cách, hai cuộc sống bây giờ thật cách biệt nhau sau cuộc chiến tương tàn, đã tạo cho Bảy Trung sự xúc cảm, nên thay vì kể tóm tắt, tự nhiên anh đã đưa tôi đến một câu chuyện khá thương tâm nghiêng hẳn về nhân vật Sáu Vọng ở trận đánh cuối cùng có anh ấy tham dự mà tôi muốn biết:</h2>
<h2><span style="color: #993300;"><em><span style="font-weight: normal;">“Trời sáng hẳn. Cầu Rạch Bần bây giờ đang nằm trong tầm đạn của khẩu đại liên 50 đặt tại lô cốt gác của Đại Đội 412 Vận tải. Lính phòng thủ ở đây dựa vào địa hình, đã ra sức khoá chặt hướng tiến công của chúng tôi vào thành phố. Tổ trinh sát và đội công tác nội thành của Tư Cầu đã vượt qua từ lúc trời còn mờ mờ, đến khi đơn vị chúng tôi chuẩn bị qua lộ thì khẩu đại liên xối xả nả đạn. Không một chiến sĩ nào vượt qua khỏi lằn đạn như mưa nầy. Có mấy đồng chí bị đạn, cố dùng sức còn lại để bò hẳn vào lề, tiếp tục sứ mạng tiến vào thành phố, nhưng đều đã hy sinh. Tiểu đội bảo vệ BCH của tôi và Sáu Vọng đang tiếp cận mặt đường. Đồng chí chỉ huy cấp trên truyền lệnh miệng cho tôi: “Hãy cảnh giác tối đa, lợi dụng thời cơ thuận lợi nhứt để vượt lộ”. Sáu Vọng kề tai tôi: “Hãy chậm qua lộ một chút, anh để tôi khoá miệng thằng“gà tre” nầy mới được!”. Tôi nói như ra lệnh.  “Đừng liều lĩnh!”. Thật ra lúc đó tôi và Sáu Vọng dù chức vụ và nhiệm vụ khác nhau, sống chết kề cận bên nhau trong đợt tấn công nầy.. Nếu Sáu Vọng quyết định “khoá miệng gà tre”, là nó sẽ thi hành một mình. Nhưng cấp chỉ huy bên trên có cho phép như vậy không? Kinh nghiệm cho thấy trong chiến đấu, những quyết định đột xuất thường mang hiệu quả tốt, nhưng trường hợp nầy có trái nghiêm lệnh lắm không? Nhiều điển hình nổi bật phẩm chất cao quý qua những hành động đột xuất như vậy… Tôi thấy Sáu Vọng như cương quyết, bởi qua tia mắt rực lửa của nó, tôi biết khó thể cản ngăn. Nó tháo ba-lô “con cóc” trao tôi và dặn: “Anh giữ hộ tôi. Có tập bản thảo trong đó. Nếu hoàn thành nhiệm vụ trận nầy, tôi tha hồ viết cho anh đọc…”. Nó còn căn dặn tôi: “Khi thằng gà tre câm họng, hoặc đã quay hướng tác xạ, đơn vị ta phải cấp tốc vượt qua lộ cho dứt điểm nghe!”. Tôi nắm chặt tay nó: “Nầy, cứ mang ba-lô vào, đừng nói điềm gở như vậy, phải theo đơn vị nghe!”. Có lẽ không muốn giằng co ở gây phút nầy, Sáu Vọng lại mang ba-lô lên lưng rồi thoát chạy vào đám nhà dân. Tôi truyền báo sự việc trên, một chút sau có lệnh: “Hãy chuẩn bị tư thế vượt lộ!”. Bỗng một tiếng nổ vang dội. Khẩu đại liên 50 đã quay hướng tác xạ vào khu nhà dân. Chúng tôi qua lộ ào ạt. Biết bị “gạt”, khẩu đại liên quay nòng trở lại, nhả đạn xối xả lên mặt đường quét ngang cầu Rạch Bần. Sáu Vọng đã lạc đơn vị, bởi nó không thể quay lại để cùng chúng tôi vượt lộ. Đơn vị chúng tôi tiến sâu vào khu vực sau hẻm Tài Xỉu rồi bọc qua khu Đại Học, vẫn không sao gặp được Sáu Vọng. Mãi sau nầy, có đồng chí ở cánh quân khác kể lại tôi nghe, thấy một chiến sĩ vượt lộ một mình, bị đạn lòi cả ruột, tay ôm đùm ruột, tay kia vẫn cầm khẩu AK cố bườn theo đồng đội. Anh chiến sĩ đến mé Rạch Bần thì kiệt sức, nằm nghiêng một bên đè túi ba-lô và khẩu súng. Đồng chí thấy bạn bị thương định chạy đến cõng nhưng không còn kịp nữa, anh chiến sĩ đó đã hy sinh. Những lời sau cùng, anh chiến sĩ trẻ thều thào: “cố chuyển giùm khẩu súng và túi-bản-thảo của tôi cho anh Bảy Trung…”. Sáu Vọng đã hy sinh như vậy. Nhưng vì đạn đại liên bắn “rát quá”, đồng chí kia đã không làm theo lời trăng trối đó, vụt bỏ chạy theo đơn vị phía trước. Và tập bản thảo đó không tới tay của tôi cho mãi đến bây giờ&#8230;</span></em></span></h2>
<h2>Anh Bảy Trung ngừng kể. Tôi thấy cặp mắt anh hơi đỏ. Riêng tôi nghe có chút gì nghèn nghẹn từ trong hơi thở của mình. Rõ ràng trong tình huống gay go của chiến trận, đã nảy sanh biết bao tấm gương như Sáu Vọng. Chắc rằng, khi quyết định hành động, cái nhiệm vụ cao cả của mỗi chiến sĩ quyết tâm như Sáu Vọng khi đối mặt với làn tên mũi đạn, là nhìn tới cái chung, tới lợi ích không phải của riêng mình. Tôi hỏi anh Bảy Trung:</h2>
<h2>- Anh Sáu Vọng trước kia có những nét nào nổi bật không anh?</h2>
<h2>- Cũng có nhiều. Nhưng tánh nó rất khiêm nhường. Phần nhiều những công trận hay thành quả đạt được, nó đều bảo là của người nầy người kia. Chưa bao giờ nó nhìn nhận của riêng mình cả. Bởi vậy có bao giờ nó nhận lãnh việc khen thưởng đâu! Nó nói: <em><span style="font-weight: normal;">“Vinh dự của đồng đội, của đơn vị, là vinh quang chung, cũng là vinh dự của chính mình, còn đòi hỏi gì hơn nữa?”.</span></em></h2>
<h2>Anh Bảy Trung còn vui miệng kể thêm cho tôi nghe về cá tính của anh Sáu Vọng, đặc biệt về đời sống riêng. Sáu Vọng dù không là phóng viên báo chí chính thức, nhưng anh thích sáng tác thơ truyện những lúc rỗi rảnh mà thôi, được bổ sung vào đơn vị và ở chung với Bảy Trung. Bởi nhỏ tuổi hơn anh khá nhiều nên anh Bảy Trung khi kể đã dùng chữ “nó” để nói về Sáu Vọng. Tôi cũng đoán được điều đó nên không thắc mắc. Anh cho biết trên đường hành quân anh đều cầm khẩu AK, lưng lúc nào cũng mang “ba-lô con cóc”, mỗi khi dừng chân là Sáu Vọng lấy sổ tay ghi ghi chép chép, có khi còn phóng nét vẽ phác họa những hình ảnh anh ấy thích để lưu giữ trong tập bản thảo của mình. Anh em trong đơn vị thường đùa gọi Sáu Vọng là “phóng viên chiến trường”. Sáu Vọng không cải chính mà còn đùa: <em><span style="font-weight: normal;">“Nếu được làm phóng viên chiến trường, tôi sẽ dùng ngòi viết của mình khi như nhả đạn của khẩu AK 47 nầy!”</span></em>. Tôi cũng chưa hình dung nổi phương thức dùng ngòi bút như nhả đạn của Sáu Vọng ra sao, nhưng chắc chắn anh ấy có suy nghĩ táo bạo, một khi đã đề cập vấn đề gì là quyết định làm cho được, như anh đã từng thể hiện qua mảng sống đời mình mà hôm đó Bảy Trung đã vui miệng kể lại tôi nghe.</h2>
<h2>Bản thảo truyện ngắn dở dang mà Sáu Vọng ghi trong sổ tay đã phác hoạ nhân vật Ba Hoàng, Sáu Tâm… nhất là Ba Hoàng đang ấp ủ một phương thức đánh giá đúng mức về một con người, chân dung một con người, khiến tôi đắn đo suy nghĩ. Tập bản thảo đáng lý được trao lại cho người bạn đồng đội là Bảy Trung theo như lời trăng trối của người viết trước khi chết, đã không đến được, mà nó lại là một chiến lợi phẩm của Tr. uý Trần Nghiên X. thu được trong trận chiến đầu năm Mậu Thân 1968 tại thành phố Cần Thơ, thay gì giao nạp cho an ninh để điều tra nghiên cứu thì bạn tôi lại trao tặng cho tôi. Cái may của tôi là có được nguồn bổ sung quý giá qua nhân vật Bảy Trung, cũng là bạn học cũ. Cả hai người bạn nầy chưa hề gặp và quen nhau, ngoại trừ tôi là bạn của hai người với một sự kiện hi hữu chưa chắc gì có được lần thứ hai trong đời.</h2>
<h2>Thỉnh thoảng, tôi đọc đi đọc lại trang bản thảo viết dở dang nầy. Tôi thấy có cái gì đó chưa thật sự tròn vẹn. Nó nghèn nghẹn ở những dòng chữ cuối của trang viết. Nhưng sau lần gặp Bảy Trung, tôi lại càng ray rứt thêm. Bất chợt một hôm tôi đã nhớ lại và bắt gặp hình ảnh tác giả Sáu Vọng thật sâu, thật đậm nét. Phải chăng, anh Sáu Vọng là người đi tìm một chân dung cuộc sống trong khi chính anh đã hiện lên chân dung mà mình muốn đi tìm.</h2>
<h2>Tôi thở dài khoan khoái khi vừa chớm nghĩ ra nhận xét vừa rồi. Tôi sẽ tìm gặp anh Bảy Trung và nói thật với anh ấy về suy nghĩ mới nhất của mình. Nhưng còn với anh bạn Tr. uý Trần Nghiên X., người đã tặng tôi tập bản thảo viết tay, vốn là một chiến lợi phẩm, bây giờ anh ở đâu? Còn sống ở một nơi nào đó? Trong trại tù cải tạo? Trong một quốc gia tạm dung? Hay anh đã nằm yên trong lòng đất mẹ ở những năm tháng sau cùng trước khi cuộc chiến kết thúc? Bởi vì, tập bản thảo viết tay nhặt được trong ba-lô của một cán binh VC trong tết Mậu Thân 1968, anh tặng tôi lúc còn chiến đấu trong Tiểu đoàn 4X. BĐQ; và sau lần tặng tôi tập bản thảo đó đến ngày CS cưỡng chiếm miền Nam cho đến khi tôi viết xong truyện ngắn nầy, tôi chưa hề gặp lại hay biết tin về anh – [người bạn cùng ở trọ tại nhà của Cô Sáu, số 6/1 hẻm 2A đường Pasteur thành phố Cần Thơ, để đi học năm xưa. Thời đi học anh đã yêu cô bạn gái tên Phương Lan ở hẻm Hai Địa, và hai người đã quyết định “giấu gia đình” để chung sống với nhau] –. Cách xa nhau đến mấy mươi năm rồi, nhưng tôi vẫn thầm nghĩ rằng anh Trần Nghiên X., vẫn còn sống, vẫn còn có dịp đọc bài viết nầy của tôi dù biết rằng đã quá muộn màng.</h2>
<h2>Cần Thơ, ngày 01 tháng 11 năm 1986</h2>
<h1>LÊ CẦN THƠ</h1>
<p><img class="alignleft size-full wp-image-4780" title="a" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/a2.gif" alt="a" width="467" height="17" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4781" title="mai" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/mai.jpg" alt="mai" width="300" height="225" /><img class="alignleft size-full wp-image-4782" title="yenlabusinesscard211-300x171" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2010/01/yenlabusinesscard211-300x1712.jpg" alt="yenlabusinesscard211-300x171" width="350" height="199" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2010/01/20/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-12/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>SỔ TAY TRANG NHÀ</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/12/29/s%e1%bb%95-tay-trang-nha-2/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/12/29/s%e1%bb%95-tay-trang-nha-2/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 30 Dec 2009 03:13:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4641</guid>
		<description><![CDATA[Sổ Tay Trang Nhà
 Trần Bang Thạch
NGÓ LOANH QUANH
 SAO CHỈ THẤY NỖI BUỒN?


Những ngày gọi là lễ lạc cuối năm đã qua rồi, từ 3 hôm nay. Thêm một năm nữa đang chực hờ ngoài cửa. Muốn để lại sau lưng hết những muộn phiền, những âu lo…để dang tay đón mừng Năm Mới. [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h2><span style="color: #ff0000;">Sổ Tay Trang Nhà</span><br />
<span style="color: #cc99ff;"> Trần Bang Thạch</span></p>
<h1><span style="color: #666699;">NGÓ LOANH QUANH</span><br />
<span style="color: #993366;"> SAO CHỈ THẤY NỖI BUỒN?</span><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4642" title="ba.JPG.w300h453" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/ba.JPG.w300h453.jpg" alt="ba.JPG.w300h453" width="200" height="302" /></h1>
</h2>
<h2><span style="color: #993366;">N</span>hững ngày gọi là lễ lạc cuối năm đã qua rồi, từ 3 hôm nay. Thêm một năm nữa đang chực hờ ngoài cửa. Muốn để lại sau lưng hết những muộn phiền, những âu lo…để dang tay đón mừng Năm Mới. Muốn vậy nhưng nào có được! Lòng mình sao cứ xao xuyến, bùi ngùi mỗi khi nhớ tới, mỗi khi nghĩ tới cái ngày Tạ Ơn và Giáng Sinh vừa qua.<br />
Trước Ngày Tạ Ơn, tôi mất người bạn và trước ngày Giáng Sinh tôi mất người thầy, hỏi sao lòng mình không bùi ngùi, lưu luyến!<br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4643" title="faceless_person.jpg.w300h200" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/faceless_person.jpg.w300h200.jpg" alt="faceless_person.jpg.w300h200" width="150" height="100" />Trên cột mục của trang web này tôi đã có lần nói về một người homeless, bạn tôi. Bạn tôi hàng ngày sinh sống bằng những đồng tiền kiếm được do việc lau kính những chiếc xe dừng lại chờ đèn xanh ở ngả tư xa lộ 45 và đường 249. Thật sự thì một năm tôi chỉ biếu bạn tôi vài đồng bạc lẻ. Như vậy thì chữ “bạn” tôi dùng ở đây chắc không ổn lắm, phải không? “Bạn” gì mà có vẽ thờ ơ thế? Người đi đường cũng không mặn mà lắm với bạn; có người còn dọa kêu cò bót. Có lần bạn tâm sự với tôi như vậy. Tôi còn thấy trước mắt một chiếc xe bất thần trờ tới xuýt đụng vào bạn khi bác tài không muốn bố thí mấy chục xu hay vì không muốn cây lau bẩn thỉu đụng vào kính chiếc xe mới toanh của họ. Gần như mỗi bận đi làm về là tôi gặp bạn, có khi đưa bạn một, hai cái quarters, có khi khoát tay “hi” với nhau rồi chia tay. Nhưng đặc biệt mỗi năm một lần chúng tôi có nhiều thì giờ với nhau hơn. Đó là bữa ăn vào đúng ngày Tạ Ơn. Ngày ấy, dù có đi làm hay không tôi cũng đến cái ngả tư quen thuộc, dừng xe rước bạn tới cái tiệm gà chiên Wings “N” More cách đó một con đường. Tại đây bạn tôi chỉ ăn 3 cái cánh gà chiên; không hơn không thiếu, năm nào cũng vậy. Chúng tôi không nói nhiều nhưng trong mắt mỗi người ánh lên niềm vui khi chúng tôi cùng nhau mừng Thanksgiving. Chúng tôi thật sự không có nhiều chuyện để nói. Chuyện sở sùng của tôi thì không nên nói, mà chuyện Iraq, Iran…hay chuyện kinh tế bây giờ lại càng không nên bàn. Cho nên chúng tôi chỉ nói chuyện mưa nắng; nhiều lắm là nói chuyện con chó Polo của bạn. Bốn năm trước con Polo bị xe cán chết, ấy vậy mà mấy năm sau gặp tôi bạn vẫn nhắc tới nó. Mỗi lần nhắc tới Polo là bạn tôi sụt sùi làm mình cũng mủi lòng. Lần đầu thấy bạn với con chó tò tò theo chân, tôi thầm mắng cái anh chàng cù bơ mà còn đèo bồng mèo với chó, vậy thì ta cho bọn mầy chết đói luôn cho bỏ cái tật làm sang! Sau thấy cái tình của chó và người với nhau tôi mới thông cảm được. Thảo nào bạn tôi thương con Polo đứt ruột. Polo chết từ khuya mà bạn tôi cứ nhắc hoài.</h2>
<h2>Tôi thì chắc không được như bạn. Bạn tôi đã ra đi rồi hồi tháng trước, chỉ một ngày trước Lễ Tạ Ơn. Tôi đang nhắc tới bạn tôi hôm nay đây, nhưng biết tôi còn nhắc tới bạn thêm một lần nữa không? Một năm một lần, vào đúng ngày Tạ Ơn, tôi đâu còn thấy bạn tôi, thấy bạn trong tiệm fast food vừa trệu trạo nhai cánh gà vừa nhắc con Polo. Người homeless “bạn đường” của bạn tôi kể cho tôi nghe cái buổi tối trời đổ mưa, bạn tôi băng qua đường vừa lúc chiếc xe trờ tới đụng bạn ngã sấp. Được tin tôi chỉ còn biết quày xe trở về, thầm cầu nguyện bạn được sum họp với con Polo ở một nơi chỉ có người thánh thiện và giàu lòng nhân ái.<br />
Buổi sáng của ngày Lễ Tạ Ơn hôm đó còn đeo đuổi tôi cho tới bây giờ, hơn một tháng rồi.<br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4644" title="RAMATSACH_GSThang12" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/RAMATSACH_GSThang12.jpg" alt="RAMATSACH_GSThang12" width="450" height="308" /><br />
Một tháng sau, thêm một nỗi buồn nữa kéo tới. Một vị thầy thời trung học của tôi đã ra đi đúng vào ngày Áp Lễ Giáng Sinh. Người giáo sư Anh Ngữ của trường Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ và của trường Sinh Ngữ Quân Đội Trần Đức Thắng đã từ giã những môn sinh của mình. Nhà biên khảo lịch sử VN cận đại Trần Đông Phong đã ra đi mang theo nhiều công trình nghiên cứu còn dang dở. Trước mắt tôi còn in rõ những hình ảnh của buổi giới thiệu tác phẩm “Việt Nam Cộng Hòa- 10 Ngày Cuối Cùng” ngày 28-5-2006 tại Trung Tâm Việt Mỹ. Tác giả Trần Đông Phong đứng trên bục mà như cá dưới nước, ông nói thao thao, ông trả lời thỏa đáng những câu hỏi. Tôi có cảm tưởng ông rất tự tin và thoải mái bơi lội trong dòng lịch sử cận đại của nước nhà. Một thính phòng cả mấy trăm người im lặng nghe và hăng hái hỏi. Đọc các công trình nghiên cứu của ông tôi mới biết Tổng Thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson năm 1801 đã từng tiếp kiến Hoàng Tử Cảnh để thiết lập mối giao hảo với VN và Đông Dương, biết thêm về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và đối lập, về Tinh thần yêu nước và tài năng nghệ thuật của Vua Hàm Nghi, về ý đồ thâm độc của chế độ Hà Nội khi kết án Cụ Phan Thanh Giản, về kẻ sĩ cuối cùng Trần Văn Hương,v.v…Cho nên tôi có cảm tưởng dù thầy trò chúng tôi đã rời xa trường cũ hơn bốn mươi năm, tôi vẫn là người học trò tìm thấy ở Thầy Trần Đức Thắng, trong vai trò nhà nghiên cứu Trần Đông Phong, nhiều điều tôi cần phải học ở Thầy.</h2>
<h2>Bây giờ thì Thầy đã ra đi. Thầy đi thật rồi. Thầy về Nước Trời 1 ngày trước Lễ Giáng Sinh. Biết trước rằngThầy phải đi, nhưng khi nghe Thầy đi, lòng bổng bàng hoàng. Biết trước rằng 10 phút nói chuyện với Thầy trên giường bịnh qua điện thoại hôm đó là những giờ phút hạnh phúc của tôi, là giờ phút quý báu cuối cùng của Thầy trên đời, nhưng mỗi lần nghĩ tới sự vắng mặt vĩnh viển của Thầy là mỗi lần nghe đau xót.</h2>
<h2>Có một đoạn văn cuối trong bài Thầy trả lời phỏng vấn của Ban Biên Tập Đặc San 12 phát hành nhân ĐH PTGĐTĐ lần XI – Houston 2007. Đây là những lời tâm sự của Thầy, bây giờ đọc lại thấy đây phải chăng là lời Thầy gởi lại trước lúc ra đi?</h2>
<h2>“Tôi hy vọng rằng nếu tình trạng sức khỏe còn cho phép, chúng ta nên tìm cơ hội để gặp lại nhau một lần, biết đâu chừng đó sẽ là lần cuối?”</h2>
<h2>Lễ Tạ Ơn và Lễ Giáng Sinh đã qua rồi mà. Sao tôi cứ nghĩ hoài đến nó như nghĩ đến những nỗi buồn?</h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><span style="font-weight: normal;"><em>3 ngày sau Lễ Giáng Sinh 2009</em></span></span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><span style="font-weight: normal;"><em>Trần Bang Thạch</em></span></span></h2>
<p><img src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/a2.gif" alt="a" title="a" width="467" height="17" class="alignleft size-full wp-image-4648" /><br />
<img src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/cupid_210-1.jpg" alt="cupid_210-1" title="cupid_210-1" width="300" height="223" class="alignleft size-full wp-image-4649" /><img src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/yenlabusinesscard211-300x1712.jpg" alt="yenlabusinesscard211-300x171" title="yenlabusinesscard211-300x171" width="350" height="199" class="aligncenter size-full wp-image-4650" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/12/29/s%e1%bb%95-tay-trang-nha-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>HÃY TRẢ VỀ ĐÚNG SỰ THẬT&#8230;&#8230;&#8230;.</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/12/27/hay-tr%e1%ba%a3-v%e1%bb%81-dung-s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/12/27/hay-tr%e1%ba%a3-v%e1%bb%81-dung-s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 28 Dec 2009 00:51:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4611</guid>
		<description><![CDATA[HÃY TRẢ VỀ
ĐÚNG SỰ THẬT
MỘT CÔNG TRÌNH TIM ÓC
* tưởng nhớ hương linh Hà Huy Thanh
* tặng GS Lê Văn Quới và GS Lê Phước Nghiệp
đã từng ray rứt về vấn đề chua xót nầy.

bài của
 LÊ CẦN THƠ
Trong bài viết về nhà sưu khảo văn học NGUYỄN BÁ THẾ, tôi có đề cập đến [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><span style="color: #0000ff;">HÃY TRẢ VỀ<br />
ĐÚNG SỰ THẬT<br />
MỘT CÔNG TRÌNH TIM ÓC</span></h1>
<h2>* tưởng nhớ hương linh Hà Huy Thanh<br />
* tặng GS Lê Văn Quới và GS Lê Phước Nghiệp<br />
đã từng ray rứt về vấn đề chua xót nầy.<br />
<img src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/vien1.jpg" alt="vien" title="vien" width="300" height="226" class="alignleft size-full wp-image-4623" /></p>
<h1>bài của<br />
<span style="color: #b34ab5;"> LÊ CẦN THƠ</span></h1>
<h2><span style="font-weight: normal;">Trong bài viết về nhà sưu khảo văn học NGUYỄN BÁ THẾ, tôi có đề cập đến một số công trình lớn mà ông đã dày công sưu tầm, nghiên cứu để biên soạn, trong đó có hai bộ sách TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM và TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRUNG QUỐC từ những năm ông mới ở vào độ tuổi 30. Được biết có nhiều tài liệu của ông bị một số người mượn không trả và lại lấy làm “của riêng” để xuất bản. Tôi tận mắt chứng kiến tập bản thảo do ông Nguyễn Bá Thế viết tay trên giấy học trò loại 200 trang “THƠ VỊNH KIỀU”, do một GS từ Sài Gòn xuống “mượn” sau đó được in và xuất bản hẳn hoi với tên GS đó là tác giả, nên tôi ngại loạt bài trong bộ từ điển NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM đang có người từ Sài Gòn muốn mượn rải rác một số trang về tham khảo… có thể bị sử dụng như Thơ Vịnh Kiều, nên tôi đề nghị ông Nguyễn Bá Thế đưa trước vô tuyển tạp sinh hoạt văn học nghệ thuật MIỀN TÂY THĂNG HOA số 3 để “trước bạ”, (do ông Nguyễn Bá Thế chủ biên, tôi lo bài vở và phụ trách kỹ thuật) vì tạp chí nầy có xin kiểm duyệt và có phép xuất bản.</span><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4613" title="hinh1" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/hinh1.jpg" alt="hinh1" width="211" height="294" /><br />
<span style="font-weight: normal;"> Giấy phép số 473/74/BDVCH/PHBCNT/ALP/TP ngày 27 tháng 8 năm 1974, dầy 100 trang, từ trang 53 đến trang 93, có in: VIỆT SỬ NHÂN DANH TỪ ĐIỂN, bên dưới ghi TUYỂN TẬP “Miền Tây Thăng Hoa” 1974. Số nầy đã phổ biến: </span><em><span style="font-weight: normal;">Biên tập đại ý, Lời nói đầu, Phàm lệ, Bản liệt kê danh hiệu các vị Hoàng đế, vương công cự khanh (gồm A. Đế hiệu, B. Vương hiệu, Vương tước, C. Công tước, D. Hầu tước, Đ. Bá tước, E. Tử tước,  Ê. Nam tước, Phụ chú (tước hiệu các nhân vật Trung Hoa và các Võ quan Pháp có mặt trên lịch sử ta, có phong tước).</span></em><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4614" title="hinh2" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/hinh2.jpg" alt="hinh2" width="212" height="301" /><br />
<span style="font-weight: normal;"> Tôi còn được biết, ông Nguyễn Bá Thế cũng đã viết một số đầu sách địa phương chí các tỉnh nhưng không đứng tên của ông. Cho nên, Giáo sư Lê Văn Quới dạy Quốc Văn trường Phan Thanh Giản khi được tôi hỏi, ông đã nói: </span><em><span style="font-weight: normal;">“Anh Thế dễ tin người lắm. Nói chung những sách vở, những bài sưu khảo, những sáng tác của anh, dù là bạn văn ở Nam, Trung, Bắc ở xa đến, hễ nói một vài lời là anh cho mượn. Cho mượn mà không cần biết có trả lại hay không. Cho nên từ đó mới thất thoát một số rất nhiều. Tôi cũng được biết, nhưng điều nầy có lẽ phải đặt lại, và tôi muốn rằng trong văn học thì lấy sự chân thực làm phương châm, cho nên “Cái gì của NGUYỄN BÁ THẾ phải trả về cho NGUYỄN BÁ THẾ”. Theo tôi được biết, và biết rất chính xác, là những công trình sưu khảo của những người nổi tiếng về quê hương đất nước, trong đó có CẦN THƠ xưa và nay, MỸ THO xưa và nay, GIA ĐỊNH xưa và nay, VĨNH LONG xưa và nay…, thì trong đó có phần đóng góp của anh THẾ rất lớn. Và vì dễ tin người nên anh dễ bị người ta lợi dụng. Đó là những điều mà chúng ta cần nên đặt lại nếu có dịp nào đặc biệt nói về anh THẾ…”.</span></em></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">Trở lại bộ TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM (lúc khởi soạn, ông dùng chữ VIỆT SỬ NHÂN DANH TỪ ĐIỂN), ông có tiết lộ là </span><em><span style="font-weight: normal;">“có tới hơn bốn ngàn năm trăm nhân vật, nhưng bước đầu hợp tác với ông Nguyễn Quyết Thắng, chỉ đưa khoảng 1 phần 3 số lượng mà thôi. Bản in lần 2 có bổ sung một số nhân vật cận đại của ông Thắng đưa vô chớ không phải ông. Hy vọng sau nầy sẽ phối hợp chặt chẽ hơn”</span></em><span style="font-weight: normal;">. Điều tiết lộ nầy đã cho thấy, ông Nguyễn Quyết Thắng đã không trung thực khi xác nhận sự hợp tác soạn thảo bộ sách nầy ngay từ đầu. Ông ta chỉ gặp gỡ ông Nguyễn Bá Thế lần đầu tiên vào gần giữa thập niên 1980 (chính xác là </span><span style="color: #000000;">31 tháng giêng năm 1984). Tôi khẳng định sự giao tiếp giữa ông Nguyễn Bá Thế và ông Nguyễn Quyết Thắng vào thời điểm đó. Còn nói rằng hai ông cùng hợp soạn là không đúng.</span><span style="color: #000000;"><span style="font-weight: normal;"> </span></span><span style="font-weight: normal;">Nếu nói khi gặp được nhau, biết được công trình soạn sẵn và ông Thế muốn nhờ giúp in ấn phổ biến, ông Thắng có bổ sung thêm tài liệu hoặc hiệu đính và lo việc xin phép in ấn có thể chấp nhận được.</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">Khi bộ TỰ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội cấp phép và in ấn phát hành năm 1991 (tái bản 1992) nhà xuất bản Văn Hoá tái bản lần thứ ba (1993) lần thứ tư (1997), công lao giao dịch là ông Nguyễn Quyết Thắng, tôi không chối cãi. Nhưng ông Nguyễn Quyết Thắng đã viết và trả lời báo chí trong nước khi ông Nguyễn Bá Thế qua đời, tôi có được đủ tài liệu để chứng minh là ông </span><span style="color: #000000;">“gian dối” về thời gian tính cách hợp tác biên soạn từ ban đầu.</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">Để quý bạn đọc tiện theo dõi, tôi xin in lại những bài báo liên quan đến vấn đề nầy.</span></h2>
<h2>1.<span style="font-weight: normal;"> Trước hết là bài viết của ông Nguyễn Quyết Thắng, trang Văn Hoá Văn Nghệ của báo Phụ Nữ số ra ngày 13-4-1996, với tựa: “Ai Sẽ In Những Công Trình Còn Lại?”. Ông Thắng viết (những chữ in đậm nét hoặc gạch dưới là do tôi &#8211; LCT nhấn mạnh): <span style="color: #0000ff;"><strong>“Tôi quen ông Nguyễn Bá Thế (1925-1996) <span style="text-decoration: underline;">vào đầu năm 1971</span></strong><span style="text-decoration: underline;"> </span>(khi tôi về làm nhân viên giảng huấn tại ĐH Văn Khoa Cần Thơ) cho đến những năm cuối đời ông.</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;">Dạy ở ĐH Văn Khoa và Sư phạm Cần Thơ hơn một năm, <strong><span style="text-decoration: underline;">tôi qua lại nhiều lần với ông do cái duyên văn tự</span></strong> vì tôi vừa xuất bản cuốn Huỳnh Thúc Kháng, Con người và thơ văn, tôi gửi tặng ông ngay. Tôi gọi là duyên văn tự vì trước đó, ông là tác giả cuốn Huỳnh Thúc Kháng do nhà Tân Việt in lối năm 1958. Có lẽ <strong>do nghiên cứu về các danh nhân mà ông và tôi <span style="text-decoration: underline;">lập tức thân nhau</span>, và <span style="text-decoration: underline;">cũng từ đó chúng tôi cùng nhau nghiên cứu về một vài công trình</span></strong>, trong đó có các đề tài về Nguyễn Thượng Hiền, Phan Văn Trị, Điển cố Văn học… <strong><span style="text-decoration: underline;">nhất là bộ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam</span></strong> được NXB Văn Hoá in lần thứ ba (1993).</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;">Trước khi quen thân ông, tôi đã theo dõi các loạt bài: Gương chí sĩ, Tinh hoa nòi Việt, Các chí sĩ trên đường duy tân… của ông đăng trên các báo ở Sài Gòn từ những năm 60. <strong>Từ khi tôi về dạy học ở Cần Thơ, việc <span style="text-decoration: underline;">tiếp xúc giữa ông và tôi thường xuyên hơn</span> và <span style="text-decoration: underline;">công việc hợp soạn giữa chúng tôi được tiến hành khá suôn sẻ và nhanh </span>vì lúc đó ông còn mạnh khoẻ và thính tai </strong>(từ những năm 80 tai ông đã bị liệt).</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;">Sau khi bộ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam ra đời được độc giả đón nhận nồng hậu, dù bịnh nặng (ông vừa bị liệt tai, vừa liệt thân phải ngồi hoặc nằm một chỗ), ông vẫn thường viết thư đôn đốc tôi (vì tôi đã chuyển về ĐH. SP Sài Gòn) cùng ông lo hoàn tất các đề tài đã làm, nhất là bộ Từ điển nhân vật lịch sử Trung Quốc </span>[(ông Thế đã hoàn tất bộ sách nầy từ lâu (trước năm 1975) với hơn mười ngàn nhân vật và nếu in phải hàng vạn trang sách khổ lớn – LCT)], <span style="color: #0000ff;">nhưng do tôi bận các công trình biên khảo riêng, nên tôi cứ lần lữa mãi và chỉ hứa với ông là tôi sẽ chỉ xin làm cái việc bổ sung, hiệu đính cho tác phẩm. Tuy vậy, ông vẫn tha thiết với việc hợp tác, nên trong các thư viết cho tôi, ông luôn nhắc: <em>“chờ khi tay bắt mặt mừng với nhau, chúng ta sẽ bàn việc hợp tác biên soạn và xuất bản những bộ sách rất công phu và giá trị hơn nữa” (tháng 3-1992) hoặc trong thư ngày 4-10-1994 ông viết: “ Về bộ Từ điển nhân vật lịch sử Trung Quốc sẽ là tác phẩm xứng đáng vào kho tàng văn học trong niềm gắn bó cộng tác nhiệt thành, nhiệt tâm của chúng ta. Đã hiểu nhau, xin ông hãy tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành chí nguyện tha thiết cống hiến và phụng sự văn hoá dân tộc, tổ quốc thân thương.</em></span> [Tôi nghĩ ông Thế có viết thư đó, nhưng không hoàn toàn hợp tác biên soạn, mà chỉ muốn nhờ ông đứng tên chung để xin phép in và xuất bản như cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam – LCT].</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;">Hôm nay đọc lại những dòng chữ trên, tôi vô cùng xúc động và cảm thấy áy náy vì chưa góp đủ công sức hạn hẹp của tôi vào bộ Từ điển nhân vật lịch sử Trung Quốc vì “lực bất tòng tâm”</span> [Đúng, ông đâu có tài liệu gì về nhân vật TQ để đưa vô, trong khi bộ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam ông đưa vô quá dễ dàng các nhân vật CS đương đại để lấy lòng đảng và nhà nước để xin phép in – LCT]. <span style="color: #0000ff;">Nay ở nơi thăm thẳm của thế giới bên kia, mong hương hồn ông niệm thứ, vì có lúc tôi thoáng nghĩ, giá tôi bỏ công việc riêng thì biết đâu bộ sách trên có thể ra mắt độc giả trước khi ông về cõi vĩnh hằng! </span>[chưa chắc! – LCT].</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;">Và tôi càng buồn hơn khi biết trước lúc ra đi ông còn để lại ngồn ngộn những công trình sưu khảo đang biên soạn dở dang như: <em>Gương chí sĩ, Giai thoại văn học, Cao hiền xử sĩ Việt Nam, Chí sĩ trên đường duy tân cứu nước, Tên tự, hiệu danh nhân, Cây, hoa trái…</em></span> [không phải biên soạn dang dở, mà ông Thế đã sửa chữa, bổ sung xong, đang chép sạch lại hầu hết các bộ sách trên – LCT].</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;">Tôi viết mấy dòng này, trước là để tưởng niệm ông – một bậc đàn anh mà cũng là một người bạn vong niên trong duyên hàn mặc, sau là lời tâm nguyện, mong các cơ quan văn hoá, nhất là chính quyền tỉnh Cần Thơ nghĩ đến số bản thảo đồ sộ và các công trình dở dang của ông nói trên để chúng có thể ra mắt công chúng?</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;">Tấm lòng của kẻ đến sau hay thốn tâm người quá cố!</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;"><em>Sài Gòn cuối tháng 3/1996.</em></span></span></h2>
<h2><span style="color: #000000;">2.</span><span style="font-weight: normal;"> Nhà báo Nguyễn Giao Thủy [(tức nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ mà trước đây tôi có dịp đưa anh đến gặp và thăm ông Nguyễn Bá Thế (đầu thập niên 1990) trước khi tôi rời VN)] của tuần báo Thanh Niên số 31 ra  ngày 2 tháng 8 năm 1992, đã làm cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Quyết Thắng với bài viết “VỚI TINH THẦN TÔN TRỌNG SỰ THẬT”, có lời viết mở đầu của tác giả trước khi ghi hỏi đáp:</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #b14eaf;">“Trong khi chúng ta chưa có một cuốn Tự điển Bách khoa toàn thư – công trình của một Viện Hàn Lâm – thì việc biên soạn những công trình giá trị, nhất là về lịch sử, nhằm chuẩn bị cho sự ra đời tất yếu của bộ Tự điển Bách khoa là vô cùng cần thiết.</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #b14eaf;">“Tháng 11-91 cuốn TỰ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM do Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên soạn, Nxb Khoa học Xã hội xuất bản ra mắt công chúng, là một trong những đóng góp đáng quí đó; và đã được người đọc đón nhận nồng nhiệt. Chưa đầy sáu tháng sau, cuốn sách này được in lần thứ hai. Đối với một công trình biên soạn công phu, có giá trị, dày đến 1.132 trang, viết về hơn 1.500 nhân vật lịch sử Việt Nam từ cổ đại cho đến năm 1988, là năm các nhân vật đương đại được đề cập qua đời, quả thật đây là một hiện tượng đáng mừng cho ngành xuất bản. Theo chúng tôi, tất cả những đóng góp cho nền văn hoá dân tộc, dù lớn hay nhỏ, đều rất đáng trân trọng. Chính vì thế, chúng tôi có cuộc gặp gỡ và trao đổi với ông Nguyễn Q. Thắng, một trong hai tác giả TỰ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM”.</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">TN: Xin ông vui lòng cho biết quá trình biên soạn và sự ra đời của bộ sách?</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">Ông Nguyễn Q. Thắng (N.Q.T.): <span style="color: #0000ff;">Đây là công trình dài hơi và cũng là mối duyên hàn mặc của anh Nguyễn Bá Thế và tôi. <strong><span style="text-decoration: underline;">Từ trước 1970</span>, khi về giảng dạy ở Đại học Văn khoa Cần Thơ, <span style="text-decoration: underline;">tôi gặp anh Nguyễn Bá Thế, và chúng tôi nảy ra ý định cùng nhau hợp soạn bộ tự điển này</span>. </strong>Công việc được tiến hành khá thuận lợi. Lúc đó anh Nguyễn Bá Thế (N.B.T.)  cũng còn mạnh và tai chưa nặng. <strong>Cho đến năm 1975, công việc đã đạt kết quả khả quan</strong>. Nhưng rồi chúng tôi phải tự dừng lại… Có điều đáng nói là thời gian sau này chúng tôi làm việc rất vất vả vì anh N.B.T. bị nặng tai trầm trọng, chúng tôi phải trao đổi bằng bút đàm nên rất mất thì giờ. Cuối cùng, tôi nhận viết lại văn bản lần chót.</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">TN: Giữa việc biên soạn và việc xuất bản, chắc hẳn khó khăn cũng không kém gì nhau? Dẫu sao, sách cũng đã được in lại trong một thời gian ngắn. Và hẳn ông cũng phải thừa nhận là đối với loại sách nghiên cứu, tình hình gần đây có khá hơn?</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">N.Q.T.: <span style="color: #0000ff;">Chúng tôi đưa bản thảo cho một số bạn bè đọc. Hầu hết đều đánh giá tốt, nhưng những người thận trọng lại cho rằng có lẽ phải cắt bỏ phần viết về “những tên tay sai bán nước” mới mong in được. Tuy nghe thế, nhưng chúng tôi vẫn nghĩ như điều đã nghĩ, đã làm; và sau cùng  Nxb Khoa học Xã hội nhận bản thảo. Nhưng đưa sắp chữ từ đầu năm 1989 mà phải đến tháng 11-1991 sách mới ra được. Trong thời gian đó, giữa Nxb và chúng tôi đã có nhiều lần trao đổi, thậm chí tranh cãi rất ngay thẳng dựa trên các sử liệu. Và cuối cùng hai bên đã nhất trí về nhiều điểm (cách viết, cách xưng hô, cách sử dụng tài liệu…). Thiển nghĩ, ở đây chúng tôi đã dựa trên tinh thần khoa học, sử học để viết mà không chút tự ái, mặc cảm. Ở lần in thứ hai này, chúng tôi có bổ sung 80 nhân vật, phần lớn là các văn nhân, với đầy đủ tên các tác phẩm của họ. Sách phát hành ngày 27-5-1992, đến nay gần 2 tháng đã bán hơn nửa số lượng, như vậy là mãi lực khá cao.</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">TN: Còn về mặt tinh thần, ông nghĩ gì về sự tiếp nhận của công chúng?</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">N.Q.T.: <span style="color: #0000ff;">Chúng tôi nhận được rất nhiều thư của độc giả, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam, nơi phát hành sách rộng. Đặc biệt, trong một thư riêng, GS Dương Thiệu Tống viết cho chúng tôi có đoạn: “Lần đầu tiên sau nhiều chục năm tôi có được trên tay một cuốn Từ điển nhân vật lịch sử VN biên soạn công phu với tinh thần tôn trọng sự thật và khách quan tối đa, đính chính và bổ túc được nhiều sai lầm, thiếu sót của các từ điển, các sách giáo khoa gần đây. Tôi rất tán đồng quan điểm viết của quí ông (…) nhất là tinh thần khách quan trong việc lựa chọn các sự kiện liên quan đến cuộc đời của các bậc tiền bối và thái độ kính trọng của các ông đối với người xưa đã khuất, dù họ là những vị anh hùng, hay những kẻ bị dư luận ngày nay lên án, một điều mà một số nhà viết sách giáo khoa và từ điển gần đây ít quan tâm” (trích thư riêng đề ngày 20-1-92).</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">TN: Dù ông cho biết là tác giả có tham gia sửa bản in, và những lỗi ở lần in đầu đã được sửa chữa, nhưng vẫn còn một vài sơ sót, chẳng hạn như: Ca Văn Thỉnh (tr 65) quê làng Tân Bình Thành, nhưng con cụ là Ca Lê Hiến (nhà thơ Lê Anh Xuân) lại quê ở Tân Thành Bình (tr 64). Không biết có phải Tân Thành Bình mới đúng?</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">N.Q.T.: <span style="color: #0000ff;">Vâng, quả là còn một vài sơ sót không tránh khỏi, do anh N.B.T. đã ở tuổi 70, tai hỏng, nên chỉ có một mình tôi phải lo tất cả. Tuy nhiên, anh cũng thấy sự cố gắng cải tiến của chúng tôi, như việc in ảnh của các nhân vật ngay ở mục từ chứ không in riêng như lần xuất bản trước. Cũng trong tháng 7-92 này, tôi sẽ phát hành 2 cuốn sách đã in xong là Phan Chu Trinh – cuộc đời và tác phẩm (Nxb Văn học, Hà Nội) và Huỳnh Thúc Kháng – Tác phẩm (Nxb TP.HCM) Rất mong sẽ được báo TN giới thiệu; và qua báo, cho phép tôi được cảm ơn tất cả bạn đọc.</span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">TN: Xin chân thành cám ơn ông.</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">NGUYỄN GIAO THỦY</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">(thực hiện)</span></h2>
<h2><span style="color: #000000;">3. XIN HÃY NÓI ĐÚNG SỰ THẬT.</span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">Trước sau, công lao của ông Nguyễn Quyết Thắng đóng góp để xuất bản được cuốn TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM (do 2 NXB in và tái bản, đến năm 1997 là lần thứ 4) chúng tôi không phủ nhận. Nhưng ông Nguyễn Quyết Thắng đã “quanh co” và thật sự “gian dối” về mối giao tình giữa ông Nguyễn Bá Thế và Nguyễn Quyết Thắng. Ông Nguyễn Quyết Thắng có bổ sung vô một số nhân vật lịch sử CS đương đại và hình thành như bộ sách đang lưu hành (không hoàn toàn là tâm huyết của ông Nguyễn Bá Thế). Ngoài công trình biên soạn bộ sách được in và tái bản vừa nêu, sẽ còn bộ sách TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRUNG QUỐC do chính ông Nguyễn Bá Thế cùng khởi công biên soạn từ năm 30 tuổi như ông đã kể và chính tôi đã phỏng vấn ông khi thực hiện cho ông những thước phim tài liệu: “NHÀ SƯU KHẢO VĂN HỌC NGUYỄN BÁ THẾ &#8211; CON NGƯỜI SUỐT ĐỜI LO GÌN VÀNG GIỮ NGỌC” (năm 1991).</span></h2>
<h2><span style="text-decoration: underline;"><span style="font-weight: normal;">Ông Nguyễn Quyết Thắng khi lặp đi lặp lại nhiều lần mối liên lạc giữa ông với ông Nguyễn Bá Thế và bàn bạc hợp soạn bộ từ điển trước năm 1970</span></span><span style="font-weight: normal;"> (khi ông về dạy tại ĐH Cần Thơ) <span style="text-decoration: underline;">là hoàn toàn SAI</span>. Ông quên rằng, ông Nguyễn Bá Thế là một người làm công tác biên khảo văn học rất có tình, bất cứ văn nghệ sĩ dù ở đâu, mới đến tìm <span style="text-decoration: underline;">gặp ông lần đầu tiên, ông đều trao cho xem cuốn sổ KÝ TÊN và VIẾT LỜI LƯU NIỆM cùng ngày giờ gặp nhau. Ông Thế đã có đến mấy cuốn sổ kỷ niệm đó với không biết bao nhiêu chữ viết tay chứa đầy kỷ niệm như vậy, <strong>trong đó có ông Nguyễn Quyết Thắng.</strong></span> Để bạn đọc thấy rõ sự thật, vì tôi nghĩ, ông Nguyễn Quyết Thắng chắc đã quên ông đã viết gì trong cuốn lưu niệm đó, và tôi cũng miễn nói thêm tính TRUNG THỰC của ông Nguyễn Quyết Thắng về mối giao tình nầy với một người quá cố mà lúc nào tôi cũng tôn kính, là ông Nguyễn Bá Thế. Đó là chưa kể việc ông Thắng đã xem thường bạn đọc hai báo Phụ Nữ, Thanh Niên khi ông viết bài và trả lời phỏng vấn liên quan đến sự quen biết của ông với ông Nguyễn Bá Thế cùng diễn tiến sự “bàn bạc hợp soạn”… và cả độc giả bộ sách ông cho là hợp soạn từ ban đầu nầy. Làm sao ông không cho phép tôi được nghĩ rằng: <em>“Lần đầu tiên ông đến gặp ông Nguyễn Bá Thế (ngày 31-1-1984), ông Thế khoe chồng bản thảo bộ từ điển nầy và có ý mong muốn được phổ biến, nên ông đã hứa hẹn và đã “cào bằng tim óc của ông ấy” để đi đến kết quả ra đời của bộ từ điển mà ông hãnh diện khoe khoang là hợp soạn từ ban đầu”(trước năm 1970)?</em></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;">Tôi xin đánh máy lại nội dung lời ghi trong cuốn sổ lưu niệm của ông Nguyễn Bá Thế, và để cho trung thực, <span style="text-decoration: underline;">tôi scan lại chính “bút tự và chữ ký” của một giáo sự Đại Học là người tự nhận cùng bàn bạc và hợp soạn bộ TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM khoảng năm 1970, trong khi hai người mới thật sự gặp mặt nhau lần đầu tiên ngày 31-1-1984 – có nghĩa là mãi đến 14 năm sau!</span></span></h2>
<p><img class="alignleft size-full wp-image-4616" title="buttich" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/12/buttich1.jpg" alt="buttich" width="286" height="347" /></p>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;"><em>Cần Thơ 31-1-84</em></span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;"><em>Nguyễn Bá Thế tiên sinh kính mến!</em></span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;"><em>Nghe tiếng ông từ lâu, nhưng chưa gặp mặt, hồi gần đây mới gặp nhau nên càng quí mến ông nhiều hơn. Tuy có trễ, vẫn hơn.</em></span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;"><em>Với tấm lòng quí mến văn học, văn hoá… tôi tin sẽ có nhiều người trong chúng ta sẽ noi gương ông.</em></span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;"><em>Kính</em></span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #000000;"><em>(ký tên)</em></span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #0000ff;"><em>Nguyễn Q. Thắng</em></span></span></h2>
<h2><span style="font-weight: normal;"><span style="color: #000000;"><em>(ĐH Cần Thơ).</em></span></span></h2>
<h2></h2>
<h2><span style="color: #993300;">26 tháng 12-2009</span></h2>
<h2><span style="color: #a954ab;">LÊ CẦN THƠ</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;">(Houston Texas USA)</span></h2>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/12/27/hay-tr%e1%ba%a3-v%e1%bb%81-dung-s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>TRUYỆN NGẮN</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/27/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-10/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/27/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-10/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Nov 2009 09:05:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4269</guid>
		<description><![CDATA[BÔNG
HỒNG
VÀNG
 
truyện ngắn
DIỄM PHƯỢNG
 (Houston &#8211; Texas USA)
Ngôi chùa nằm lẫn khuất trong những hàng cây rợp lá, lối vào rải đá trắng phau chạy dài và thẳng tắp giữa hai vòng rào hoa kiểng dẫn đến cửa chính của ngôi chánh điện là bậc tam cấp. Ðã ba năm rồi nơi đây vẫn không [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><span style="color: #ffff00;">BÔNG<br />
HỒNG<br />
VÀNG</span></h1>
<h1><span style="color: #ffff00;"> </span><img class="aligncenter size-thumbnail wp-image-4270" title="RoseGarden9" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/RoseGarden9-150x150.jpg" alt="RoseGarden9" width="150" height="150" /></h1>
<h2><span style="color: #99cc00;">truyện ngắn</span></h2>
<h1><span style="color: #0000ff;">DIỄM PHƯỢNG</span><br />
<span style="color: #99cc00;"> (Houston &#8211; Texas USA)</span></h1>
<h2>Ngôi chùa nằm lẫn khuất trong những hàng cây rợp lá, lối vào rải đá trắng phau chạy dài và thẳng tắp giữa hai vòng rào hoa kiểng dẫn đến cửa chính của ngôi chánh điện là bậc tam cấp. Ðã ba năm rồi nơi đây vẫn không có sự đổi thay, tôi trở lại thành phố nầy theo chu kỳ hàng năm đúng ngày giỗ của Hạnh Tiên, người con gái từ giã cuộc đời khi tuổi nàng còn quá trẻ đã được gia đình để hình thờ trong chùa.</h2>
<h2>Sau khi đốt nhang và lạy Phật ở chánh điện xong, tôi đi vòng bằng lối cửa hông bước vào căn biệt thất dành riêng hương khói cho những vong linh. Một góc khuất khiêm nhường tấm hình của Hạnh Tiên vẫn đặt ở vị trí đó, đôi mắt như biết cười của nàng sao mà đằm thắm trong tôi một nỗi đau đến thắt cả tim. Rút sợi nơ đỏ lấy ra từ bọc nylon một bông hồng vàng, tôi cắm trước tấm hình của Hạnh Tiên với những lời thì thầm nghẹn ngào:</h2>
<h2>- Ðây là bông hồng thứ 3 anh tặng cho em&#8230;</h2>
<h2>Thoắt hiện trước mắt như thấy được nụ cười sung sướng của người con gái trong hình, tôi không cầm nổi những giọt nước mắt trong nỗi đau xót thật lặng lẽ âm thầm: “Cuộc đời nầy anh đã tự làm lỡ duyên mình, nếu có kiếp sau mong được mãi mãi yêu em!”.</h2>
<h2>Khi Hạnh Tiên vào hãng làm chung ca, nhìn dáng dấp nhỏ nhắn của cô gái tự nhiên tôi thấy mến và hơi buồn cười, bởi vì với thân hình liễu yếu mong manh đó liệu sẽ làm được việc gì để giúp tôi ? Ðiều suy nghĩ thật trái ngược lại, Hạnh Tiên rất cần mẫn, siêng năng, tính tình lại dịu dàng mềm mỏng nên không bao lâu chúng tôi trở nên thân thích. Nhỏ hơn 6 tuổi do đó Hạnh Tiên thường gọi tôi là “Anh Bình” và ngược lại vì cô gái có dáng dấp quá nhỏ nhắn, nhỏ nhắn đến đỗi mọi người gọi trại tên nàng là “Hạt Tiêu” để diễn tả sự nhỏ bé đó. Mặc nhiên chấp nhận một cái tên ngộ nghĩnh như vậy, Hạnh Tiên chẳng có gì phiền giận, trái lại đôi lúc chính nàng cũng tự xưng là “Hạt Tiêu” với “Anh Bình”.</h2>
<h2>Thật sự không biết chúng tôi đã bắt đầu chơi thân với nhau từ lúc nào, chỉ vì thời gian về sau mỗi lần thấy hai đứa xuất hiện trong những cuộc đi chơi chung với bạn bè thì mọi người liền gán ghép chúng tôi là một đôi. Trai chưa vợ, gái chưa chồng nếu có bồ bịch nhau cũng chỉ là chuyện thật bình thường thôi, hơn nữa tôi không phải là già lắm, tuổi ngoài ba mươi càng tạo cho người đàn ông một phong thái trầm lặng, chững chạc mà phần đông con gái rất ưa thích hình tượng về mẫu người nầy. Không chối bỏ sự cảm mến đối với Hạnh Tiên, nhưng về tình yêu quả thật tôi hoàn toàn không đặt cho đối tượng của nàng. Tôi thường đính chánh những hiểu lầm của bạn bè cũng như của những người trong hãng và riêng về phía Hạnh Tiên tôi cũng không muốn có sự ngộ nhận như vậy. Không hiểu sao Hạnh Tiên có vẻ buồn tuy đôi lúc nàng cũng gạt phắt đi những lời gán ghép của họ. Thường ngày đi làm trong hãng, tôi và Hạnh Tiên đứng chung một máy nên sinh hoạt gần gũi, có điều kiện quan tâm, giúp đỡ nhau hơn. Nhất là tôi luôn gánh vác công việc rắc rối, nặng nề cho cô gái. Ngược lại, Hạnh Tiên chăm sóc thức ăn, nước uống cho tôi. Hầu như giờ ăn trưa nào của hai đứa, Hạnh Tiên đều lo chu đáo, đảm đang như người nội trợ trong gia đình, khiến một người đàn ông độc thân như tôi cảm thấy thật thoải mái. Thậm chí có hôm trong người không được khoẻ, làm việc uể oải Hạnh Tiên cũng chăm sóc, hỏi han. Biết tôi bị bệnh cô gái moi trong xắc tay lấy viên thuốc và ly nước đưa buộc tôi phải uống. Có lần vui miệng tôi hỏi :</h2>
<h2>- “Hạt Tiêu” giống bác sĩ quá. Có điều chưa “khám bệnh” mà dám cho thuốc không biết trúng bệnh không đây ?</h2>
<h2>Hạnh Tiên nheo mắt cười :</h2>
<h2>- Vậy mới là “bác sĩ” hay, “bệnh nhân” của “Hạt Tiêu” chỉ độc nhứt có một thứ bệnh thôi.</h2>
<h2>Tôi ngạc nhiên :</h2>
<h2>- Bệnh gì ?</h2>
<h2>Hạnh Tiên ôm bụng cười :</h2>
<h2>- Thì “nhỏng nhẻo” đó !.</h2>
<h2>Lần tôi bị accident trong hãng do máy móc trục trặc, nên sự cố xảy ra: ngón tay trỏ bị cắt chảy rất nhiều máu. Hạnh Tiên hốt hoảng lấy bông băng, thuốc sát trùng cầm máu vết thương cho tôi mà nước mắt của nàng tuông rơi từng giọt. Không hiểu sao thấy sự lo lắng của cô gái mà tôi vẫn có thể thản nhiên giễu cợt :</h2>
<h2>- Chưa bị cụt ngón tay mà “Hạt Tiêu” sợ gì ?</h2>
<h2>Ðôi mắt còn đọng những ngấn nước chưa kịp lau sạch, Hạnh Tiên nhìn tôi trách móc :</h2>
<h2>- Có đau không ? Sao còn cười giỡn được ?</h2>
<h2>Tôi bật cười lớn :</h2>
<h2>- Mình đứt tay mà người khác lại đau, cái đó mới ngộ, không mắc cười sao được ?</h2>
<h2>Hạnh Tiên nhìn tôi trân trân, không hiểu sao lúc đó tôi đã quay mặt đi một cách hết sức thản nhiên, dường như đối với cô gái trong lòng mình chưa thể hiện dấu hiệu gì gọi là cảm xúc.</h2>
<h2>Hằng năm vào ngày valentin&#8217;s hãng có thông lệ tặng quà cho nhân viên, nam công nhân thì được một bông hồng nhung, còn riêng phía nữ là gói kẹo. Có lẽ bông hồng cho nam nhân viên để họ mang về tặng lại vợ hoặc người yêu trong ngày lễ tình nhân, một phong tục kiểu cách của người tây phương. Hạnh Tiên thấy tôi cầm đoá hồng nhung quá đẹp, cô gái luôn miệng trầm trồ rồi đeo theo gợi ý đổi kẹo lấy hoa. Nhưng tôi đã từ chối, dường như có chút gì hụt hẫng làm cho Hạnh Tiên buồn hiu. Thật ra chẳng phải tiếc gì một bông hồng nhung đó, tôi cho luôn Hạnh Tiên cũng được đâu cần gì trao đổi. Có điều nguồn dư luận đang gán ghép sự quan hệ của hai đứa nên tôi tránh tạo thêm sự hiểu lầm của mọi người cũng như không muốn cô gái ngộ nhận thế thôi. Tôi nghĩ có lẽ Hạnh Tiên hiểu rõ tính cách của loại hoa hồng, đó là một lời tỏ tình hay nhứt của người con trai mượn hoa để nói thay mình. Bởi vậy sự từ chối trao bông hồng cho Hạnh Tiên ngầm để cô gái hiểu tình yêu trong lòng tôi không phải là nàng. Hạnh Tiên rất thông minh, thoáng một chút là biết vị trí trong tim người con trai không có chỗ dành cho mình thì nàng vội vàng khoả lấp bằng nụ cười vui :</h2>
<h2>- Nói chứ em không thích hồng nhung đâu, trông nó rực rỡ quá, bản tính hiền hoà của “Hạt Tiêu” có lẽ hợp với hoa hồng vàng hơn, phải không anh Bình?</h2>
<h2>Tôi nheo mắt nhìn cô gái trêu chọc :</h2>
<h2>- Hoa hồng vàng có tính cách thầm kín, “Hạt Tiêu” có điều gì đang che giấu phải không ?</h2>
<h2>Hạnh Tiên giảy nãy kêu lên :</h2>
<h2>- Anh Bình vô duyên chi rứa tề.</h2>
<h2>Nhại giọng Huế của nàng thật dễ thương, tôi bỗng nhận ra có nét gì rất duyên dáng ở người con gái nầy. Làm việc gần gũi với nhau một thời gian, sự gắn bó mật thiết đã trở nên thân tình, cho nên đối với Hạnh Tiên tôi vẫn luôn dành cho nàng sự chăm sóc đặc biệt của một người anh hơn là một người con trai cho một người con gái. Thái độ rõ rệt của tôi có lẽ Hạnh Tiên nhận biết, đôi lúc cũng thoáng trên đôi mắt của nàng có chút gì buồn bã. Nhứt là thời gian gần đây khi nghe tôi nói về Ánh Ánh, người con gái đã được gia đình và cả tôi chọn lựa thì tính tình của Hạnh Tiên trở nên trầm lặng hơn. Ba má Ánh Ánh và ba má tôi quen thân nhau từ hồi còn ở Việt Nam, qua Mỹ gặp lại tình thân của hai gia đình vẫn không thay đổi, còn có phần tiến triển hơn do sự kết hợp hôn nhân cho hai chúng tôi. Quen Ánh Ánh không bao lâu tôi bị sắc đẹp của người con gái nầy mê hoặc, có lẽ vì vậy mà bản thân tôi cũng như gia đình đã không kéo dài giai đoạn tìm hiểu nhau, tiến đến việc thành hôn một cách nhanh chóng. Phải công nhận Ánh Ánh xuất hiện trong thời điểm rất thích hợp vì gia đình đang tính toán chuyện trăm năm cho thằng con trai cả, họ nghĩ chẳng hiểu sao đã ngoài 30 tuổi rồi mà vẫn còn phòng không đơn chiếc. Lúc đầu thấy tôi và Hạnh Tiên quấn quít thân mật với nhau cả nhà đều vui mừng chờ đợi ngày được uống trà cô dâu. Nhưng thời gian trôi qua vẫn không có dấu hiệu gì để tiến tới hôn nhân, gia đình mới truy hỏi ráo riết. Dĩ nhiên sự phủ nhận của tôi đã chứng tỏ tình cảm giữa hai đứa không có gì, nên lần nầy họ thật sự tấn công Ánh Ánh. Dẫu sao sắc đẹp của một người con gái cũng là tác động tâm lý rất mạnh đối với người đàn ông như tôi, bởi vậy mọi vấn đề khác lúc nầy đều trở thành không quan trọng.</h2>
<h2>Thời gian sau nầy mặc dù có người yêu, tôi vẫn liên lạc bình thường với Hạnh Tiên, nghĩa là thỉnh thoảng vẫn đưa cô gái đi chơi chung với bạn bè, vẫn xuất hiện bên cạnh nàng một cách thân mật. Nói chung với cá nhân tôi thì giữa hai đứa không có gì thay đổi. Nhưng riêng Hạnh Tiên dường như cô gái có phần dè dặt khác hơn trước. Không hiểu tôi có đáng trách không trong sự vô tâm của mình như vậy đối với một người con gái đã tha thiết yêu tôi ? Có  lẽ chính điều nầy đã đeo đẳng, dày vò trong nỗi đau của tôi về sau.</h2>
<h2>Hôn lễ của tôi và Ánh Ánh được tổ chức vào mùa xuân, thời gian chuẩn bị cũng không có gì bận rộn vì hai gia đình quen biết nhau nên mọi sự dễ dãi cảm thông là điều thuận lợi, tốt đẹp nhứt cho đôi trẻ. Mặc dù người nhà tôi cũng như bản thân tôi đều không có lên tiếng nhờ cậy nhưng Hạnh Tiên vẫn tình nguyện đến nhà làm giúp mọi việc, từ chuyện sửa sang trang hoàng nhà cửa đến khâu gói những mâm trà, bánh, hoa quả để đi qua đàng gái đón dâu. Phải thầm công nhận Hạnh Tiên rất khéo tay, và kỹ thuật mỹ quan của nàng rất khá, thu vén, dọn dẹp, hay cắt tỉa, bày biện&#8230; tất cả mọi thứ qua tay của Hạnh Tiên đều trở nên duyên dáng, tươm tất không chê vào đâu được. Chỉ có hai ngày đến phụ giúp đám cưới mà má tôi rất thích Hạnh Tiên, Bà đã nắm lấy tay cô gái một cách trìu mến :</h2>
<h2>- Thôi làm con gái của Bác đi, Hạnh Tiên ?</h2>
<h2>Có lẽ do thức suốt hai đêm bên nhà tôi nên buổi sáng chuẩn bị đón dâu Hạnh Tiên ngã bệnh không đi được. Nhìn nước da hơi tái xanh và gương mặt mệt mỏi của cô gái, tôi đâm ra lo lắng :</h2>
<h2>- Anh đưa “Hạt Tiêu” đi bác sĩ nghe ?</h2>
<h2>Hạnh Tiên lắc đầu gượng cười :</h2>
<h2>- Có sao đâu, uống thuốc xong sẽ hết ngay thôi.</h2>
<h2>Rồi để tôi thật sự yên lòng, nàng nói vui :</h2>
<h2>- “Hạt Tiêu” không có chết đâu mà anh sợ.</h2>
<h2>Sắp đến giờ đi đón dâu nhưng tôi vẫn không muốn rời Hạnh Tiên, ra vô lẩn quẩn bên nàng nói hết chuyện nầy đến chuyện khác, có lúc pha trò trêu chọc cho nàng cười thật rộn rã. Tôi không hiểu nỗi tâm trạng của chính mình thế nào nữa, có phải giây phút thiêng liêng của một đời người trong chuyện trăm năm mà tôi quyết định chọn lựa có sai lầm hay không ? Tại sao người con gái thân thiết, gắn bó như vậy mà thời gian trước tôi đã phủ nhận tình cảm với nàng bây giờ như có ma lực nắm níu bước chân của tôi thật khủng khiếp ?</h2>
<h2>- Tới giờ rồi anh Bình chuẩn bị đón dâu đi ?</h2>
<h2>Tôi nhìn Hạnh Tiên, phát hiện trong đôi mắt nàng có hai ngấn nước. Cô gái quay mặt đi và hối thúc một lần nữa. Trước khi bị đám phù rể chạy đến lôi kéo tôi còn nói thêm với Hạnh Tiên lời dặn dò trìu mến :</h2>
<h2>- Nằm đây nghỉ chứ không có ngồi dậy làm gì hết nghe chưa “Hạt Tiêu” ?</h2>
<h2>Không trả lời cũng không nhìn tôi, Hạnh Tiên kéo chiếc mền phủ lên mặt.</h2>
<h2>Sau tuần lễ nghỉ làm ở hãng lo đám cưới, tôi trở lại công việc bình thường của mình, gặp Hạnh Tiên ở parking niềm vui chợt đến trong tôi một cách khó tả. Chúng tôi vẫn duy trì sự quan hệ bạn bè với nhau nhưng bằng linh cảm tôi mơ hồ hiểu được Hạnh Tiên không còn là cô bạn gái hồn nhiên của ngày nào. Những giờ làm việc bên nhau trôi qua thật lặng lẽ, ngay cả buổi ăn trưa, Hạnh Tiên thường đưa ra lý do phải ăn chay nên tránh ngồi chung với tôi. Không hiểu sao những lúc sau nầy tôi cũng trở nên trầm lặng, ít nói, và sự buồn bã chợt đến với tôi thường hơn. Ðôi khi đang cặm cụi làm việc bỗng dưng muốn đưa mắt tìm kiếm dáng dấp nhỏ nhắn quen thuộc của người bạn gái một thời rất gần gũi mà giờ đây sao nàng thường lảng tránh tôi ?</h2>
<h2>Thành hôn với Ánh Ánh chưa được bao lâu, tôi bàng hoàng sửng sốt khi phát giác ra một điều người con gái đẹp đẽ, duyên dáng được chọn làm bạn trăm năm đó hoàn toàn không hiểu được tôi, nàng đã mang vào cuộc sống vợ chồng một tâm hồn thật là xa cách. Ánh Ánh có bạn bè riêng, những nhu cầu giải trí của nàng không thích hợp với tôi. Do đó tuy là vợ chồng mới cưới nhưng chúng tôi ít đi chơi chung. Vậy mà đối với Ánh Ánh cũng không quan trọng, tôi có cảm giác dường như nàng kết hôn để có lý do bước ra khỏi gia đình một cách hợp pháp vậy thôi. Ðời sống ở Mỹ rất dễ đẩy con người xa nhau hơn do công việc của mỗi người không trùng lắp thời gian và nhất là những điều suy  nghĩ của họ là hai mũi tên ngược. Ánh Ánh ít quan tâm đến chồng, thậm chí có hôm đi làm về bị sốt, tôi chờ đợi nàng hỏi một câu để có dịp nhìn thấy nét mặt lo âu và sự săn sóc của người đàn bà bên cạnh mình. Nhưng buồn thay Ánh Ánh mãi nói chuyện điện thoại với bạn, tôi bỏ vào phòng nằm bực bội rồi ngủ thiếp luôn đến sáng ngày sau thì nàng đã đi làm rồi. Những lúc như vậy tự dưng khiến tôi nghĩ tới Hạnh Tiên, từ viên thuốc đến chiếc áo ấm nàng luôn nhắc nhở cho tôi không được quên. Có khi biết tôi bệnh mà lười uống thuốc, Hạnh Tiên phải đích thân lấy đưa chờ tôi uống xong nàng mới bằng lòng. Thường cô gái bị tôi trêu :</h2>
<h2>- “Hạt Tiêu” ơi, thuốc đắng quá, anh nhả ra đó&#8230;</h2>
<h2>Tôi giả vờ dùng lưỡi đẩy viên thuốc, Hạnh Tiên nhăn mặt :</h2>
<h2>- Nuốt vào đi, em cho cục kẹo.</h2>
<h2>Tôi suýt cười nôn ruột vì bản tính thật thà của nàng, lúc nào cũng nghĩ sẽ dỗ ngọt được người khác. Ðến khi hiểu được tình yêu là sự gắn bó tuyệt vời như vậy thì đã muộn màng rồi, đường đời hai lối rẽ biết đến bao giờ mới có giao điểm phải không Hạnh Tiên ? Những đêm thật buồn không ngủ được, tôi ngồi dậy phone cho nàng, muốn nghe giọng nói bên đầu giây của người con gái đó, nhưng chuông đổ từng hồi mà không có người bắt phone. Tôi biết giờ nầy Hạnh Tiên ít khi rời khỏi nhà, có lẽ nhìn trong ID Card thấy tên tôi nên nàng không chịu lên máy, một sự trốn tránh thật đau đớn cho cả hai. Lần khác tìm đến nhà vào ngày nghỉ cuối tuần nhưng Hạnh Tiên lánh mặt trong phòng không ra tiếp, tôi ngồi thẫn thờ nơi ghế salong nói chuyện không đầu không đuôi với người nhà của nàng rồi thất thểu ra về. “Hạt Tiêu” bé nhỏ của anh Bình ơi ! Tại sao em làm như vậy ? Có phải em muốn đày đọa anh cho hả lòng oán giận ?</h2>
<h2>Nhớ hồi lúc trước bạn bè trêu chọc gán ghép hai đứa tôi, Hạnh Tiên than thở :</h2>
<h2>- Bị họ hiểu lầm là “bồ” anh mai mốt em hết lấy chồng ?</h2>
<h2>Rồi như vui miệng, nàng chợt hỏi :</h2>
<h2>- “Hạt Tiêu” sẽ trở thành cô gái già lúc đó anh Bình chịu cưới hôn ?</h2>
<h2>Tôi thật vô tâm, thản nhiên nói đùa lại mà không nghĩ đến nỗi đau của nàng :</h2>
<h2>- “Hạt Tiêu” già thì “cay” lắm, anh chẳng ham đâu !</h2>
<h2>Hạnh Tiên nhìn tôi bật cười :</h2>
<h2>- Thì ra anh Bình “chê” “Hạt Tiêu” xấu xí, em cũng chẳng cần, ở vậy sướng hơn&#8230;</h2>
<h2>Vừa nói nàng vừa vội vã quay lưng đi có lẽ vì vậy mà tôi không kịp thấy giọt nước mắt rớt xuống vai áo của Hạnh Tiên. <em><span style="font-weight: normal;">“Ðã xa lắm rồi phải không em những tháng ngày thật gần gũi, em bây giờ đâu còn là hạt tiêu của anh Bình nữa, trong gang tấc lại hoá ra nghìn trùng&#8230;”.</span></em></h2>
<h2>Công việc làm ở hãng của tôi bây giờ trở nên tẻ nhạt và nhàm chán, Hạnh Tiên đã xin đổi qua làm ở khâu khác, nên hai đứa rất ít gặp nhau. Ðôi khi tôi nấn ná ở parking chờ Hạnh Tiên ra để trao đổi với nàng đôi câu, có lúc cũng chỉ để nhìn rồi thôi. Thời gian sau nầy Hạnh Tiên gầy quá, dáng dấp đã nhỏ nhắn giờ trông nàng càng nhỏ nhắn hơn. Tại sao tôi lại phát hiện tình cảm của mình đối với Hạnh Tiên quá muộn màng như vậy ? Tại sao valentin&#8217;s day năm đó tôi lại từ chối tặng bông hồng nhung cho nàng ? Tại sao Ánh Ánh xuất hiện trong thời gian quá sớm cho tôi phải chọn lựa lầm lẫn trong đời nầy kiếp nầy ? Ôi ! biết bao nhiêu cái “tại sao” khiến tôi không đủ can đảm đối diện với chính mình. Nếu có thể kéo được thời gian tôi xin một lần trở lại valentin&#8217;s day để trao tặng cho người con gái bé “Hạt Tiêu” đoá hoa hồng nhung rực rỡ và trân trọng nói với nàng rằng : <em><span style="font-weight: normal;">“Hạnh Tiên ơi ! em mới thật sự là người anh yêu !”.</span></em></h2>
<h2>Một sáng mùa đông còn mờ hơi sương, tôi lầm lũi bước vào hãng làm việc cho một ngày đầu tuần. Như thói quen đưa mắt tìm kiếm bóng dáng người con gái vẫn thường lẫn trốn, tôi gặp chị bạn chung shift với Hạnh Tiên báo tin nàng đã xin nghỉ hãng rồi.</h2>
<h2>Tôi lặng người và cảm thấy nhói đau ở buồng ngực, chuyện rồi cũng phải đến thế nầy thôi, có điều không ngờ nó lại quá mau như vậy. Thời gian sau nầy Hạnh Tiên cứ lẫn trốn tôi hoài, càng ngày thấy nàng trở nên buồn bã và tiều tụy. Có một lần hai đứa đụng mặt nhau ở phòng ăn, lợi dụng lúc chưa có ai tôi kéo tay Hạnh Tiên để hỏi chuyện, nàng khổ sở nhìn tôi lắc đầu rồi vụt bỏ chạy đi. Bất chấp sự hiện diện của mọi người, tôi bám theo Hạnh Tiên ở hành lang buộc nàng phải đứng lại.</h2>
<h2>- Tại sao em tránh mặt anh ?</h2>
<h2>Hạnh Tiên bối rối nhìn xung quanh, giọng nàng muốn khóc :</h2>
<h2>- Em chịu đựng hết nổi rồi, anh&#8230; đừng hỏi gì nữa.</h2>
<h2>Thấy đôi mắt Hạnh Tiên đỏ au, tôi xót xa lặng lẽ quay đi, nếu đứng thêm một giây nữa có lẽ đến tôi cũng không đè nén nổi cơn thổn thức của lòng mình. Rồi chuyện gì sẽ xảy ra ? Trong một hoàn cảnh như vậy tôi không muốn tạo thêm sự éo le ngang trái cho đời người con gái đáng thương đó. Thật vậy, nếu không dằn lòng tôi sẽ ôm lấy Hạnh Tiên trước mắt mọi người thì thật tội nghiệp cho nàng. Dẫu sao Hạnh Tiên cũng có giá trị của người con gái đâu thể làm kẻ thứ ba trong hạnh phúc của người. Có lẽ chính Hạnh Tiên đã nghĩ tới viễn ảnh đó và đâm ra sợ hãi nên âm thầm bỏ ra đi ? Tìm đến nhà nàng, tôi gặp má Hạnh Tiên, nhận từ bà một phong thư dán kín, nói là của đứa con gái nhờ trao lại cho tôi. Khuôn mặt thật buồn, Bà cũng chẳng thêm một lời than thở. Thẫn thờ trở về nhà, tôi tự nhốt mình trong phòng riêng để đọc thư nàng, chỉ vỏn vẹn có mấy dòng ngắn ngủi nhưng sao buồn và cay đắng quá Hạnh Tiên ơi !</h2>
<h2>&#8230; <em><span style="font-weight: normal;">“Ðời nầy kiếp nầy chẳng mong gì sum họp thì hãy coi như không hề quen biết, Hạnh Tiên chỉ là một đứa con gái xấu xí vô duyên, anh Bình đừng nhớ đến mà làm gì ! Chọn giải pháp ra đi của Hạnh Tiên là mong anh tròn hạnh phúc. Có lẽ mãi mãi em cũng giống như là một loài bông hồng vàng câm nín phải không anh ? Hạnh Tiên”.</span></em></h2>
<h2>Nhận được tin trễ muộn từ gia đình nàng, tôi bàng hoàng đến chết lặng đi khi họ nói với tôi là : “Hạnh Tiên không còn nữa !” . Ðau đớn tận cùng tôi điên cuồng lái xe đến nơi thì thân thể của người con  gái năm xưa đã biến thành tro bụi. Mọi người trong gia đình của Hạnh Tiên đứng vây quanh với bao nhiêu giọt lệ ngắn dài, vừa thoáng thấy sự hiện diện của tôi má nàng lao đến ôm chầm lấy nức nở :</h2>
<h2>- Bình ơi ! Hạnh Tiên bệnh nặng có lẽ biết không sống nổi nên một hai đòi trở lại thành phố nầy, Bác muốn tìm cháu nhưng nó không cho&#8230;</h2>
<h2>Tôi gục đầu nghẹn ngào :</h2>
<h2>- Hạnh Tiên bệnh ra sao vậy Bác ?</h2>
<h2>Má Hạnh Tiên sụt sịt kể lễ :</h2>
<h2>- Em nó bị bệnh tim bẩm sinh, bởi vậy lúc nào cũng xanh xao gầy yếu. Thời gian đi làm hãng thì sức khoẻ đỡ lắm, vui vẻ yêu đời lắm. Bác rất mừng không ngờ&#8230; vì chuyện tình cảm với cháu không được suông sẻ nên Hạnh Tiên mới bỏ đi, trở bệnh hơn tháng nay thôi mà ra nông nổi&#8230; thật tội nghiệp cho con gái của Bác, Bình ơi !</h2>
<h2>Tôi đau đớn lại càng đau đớn hơn khi hiểu ra một điều : Hạnh Tiên đã che giấu căn bệnh với tôi, nàng không muốn nhận sự thương xót và có lẽ cũng không muốn mọi người nhìn mình bằng đôi mắt xẻ chia điều bất hạnh. Tuyệt vọng với mối tình đầu đời của người con gái, Hạnh Tiên đau khổ bỏ thành phố ra đi mang theo căn bệnh hiểm nghèo làm sao có thể đương đầu nổi mà không hao mòn hơi sức, vò võ thân gầy đến thành tâm bệnh lìa đời?</h2>
<h2><em><span style="font-weight: normal;">“Hạnh Tiên ơi ! Thôi em hãy yên giấc, cuộc đời nầy chỉ còn lại riêng anh với tất cả nỗi đau trong một kiếp người, buồn thay tình yêu đẹp đẽ nhứt của người con gái yếu đuối như em đã thoáng chốc trở thành tình hận thiên thu !?”.</span></em></h2>
<h2><span style="color: #99cc00;">Houston, 7 tháng 5-1997</span></h2>
<h1><span style="color: #0000ff;">DIỄM PHƯỢNG</span><br />
<span style="color: #99cc00;"> (Trong GIỮ LẠI CHO ÐỜI MỘT CHÚT HƯƠNG,<br />
Ðại Học Ðông Nam xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1998)</span></h1>
<p><img class="aligncenter size-thumbnail wp-image-4271" title="a" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/a3-150x17.gif" alt="a" width="150" height="17" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4273" title="RoseGarden3" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/RoseGarden31.jpg" alt="RoseGarden3" width="300" height="225" /><img class="aligncenter size-full wp-image-4274" title="yenlabusinesscard211-300x171" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/yenlabusinesscard211-300x1713.jpg" alt="yenlabusinesscard211-300x171" width="350" height="199" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/27/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-10/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>TRUYỆN NGẮN</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/27/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-11/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/27/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-11/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Nov 2009 09:00:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4282</guid>
		<description><![CDATA[CẦN THƠ
CÓ
BẾN NINH KIỀU
Bài của
LÊ CẦN THƠ

Đã từ lâu lắm, mỗi khi nói đến Cần Thơ là ai cũng liên tưởng đến bến Ninh Kiều &#8211; nơi bờ sông nhìn ra dòng Hậu Giang hiền hoà, thơ mộng. Nhà văn cho rằng &#8220;Cảnh lịch người xinh&#8221;. Nhà thơ lại ca ngợi :
&#8220;Cần Thơ có bến [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><span style="color: #008000;">CẦN THƠ<br />
CÓ<br />
BẾN NINH KIỀU</span></h1>
<h2><span style="color: #0000ff;">B</span><span style="color: #0000ff;">ài của<br />
LÊ CẦN THƠ</span><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4284" title="congvien" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/congvien1.jpg" alt="congvien" width="400" height="241" /></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Đã từ lâu lắm, mỗi khi nói đến Cần Thơ là ai cũng liên tưởng đến bến Ninh Kiều &#8211; nơi bờ sông nhìn ra dòng Hậu Giang hiền hoà, thơ mộng. Nhà văn cho rằng</span> <span style="color: #0000ff;"><em>&#8220;Cảnh lịch người xinh&#8221;</em></span><span style="color: #46403e;">. Nhà thơ lại ca ngợi :</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><em>&#8220;Cần Thơ có bến Ninh Kiều<br />
Có dòng sông đẹp với nhiều giai nhân&#8221;</em></span><br />
<span style="color: #46403e;"> hay</span><br />
<span style="color: #0000ff;"><em> &#8220;Cần Thơ có bến Ninh Kiều<br />
Nữ sinh tha thướt sáng chiều sang sông&#8221;</em></span><br />
<span style="color: #46403e;"> hoặc</span><br />
<span style="color: #0000ff;"><em> &#8220;Ninh Kiều cảnh đẹp Cần Thơ<br />
Bừng bừng sức sống từng giờ đổi thay&#8221;&#8230;</em></span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Không phải tả thêm cảnh sắc Ninh Kiều, bởi hai từ riêng này đã in sâu tâm khảm nhiều người có dịp qua đây. Tuy nhiên có một anh bạn văn nghệ từ Huế vào đồng bằng Cửu Long tìm hiểu và muốn biết</span> <span style="color: #000000;"><em>&#8220;Tại sao có tên Ninh Kiều?&#8221; &#8211; Anh hỏi &#8211; &#8220;Có phải do một chiến công của Đốc binh Kiều đánh Pháp nơi bến sông này ?&#8221;.</em></span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Tôi bèn kết hợp những gì mình đã hiểu được và tìm thêm nguồn tư liệu &#8220;sống&#8221; để xác định rõ hơn về Ninh Kiều thay câu trả lời.</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Trước hết con đường Hai Bà Trưng hiện tại, trước kia mang tên đường Lê Lợi, hẹp, chạy dọc bờ sông cây cối sầm uất (thời Pháp cai trị đặt tên &#8220;Le quai de Commerce&#8221;, nhân dân gọi là bến Hàng Dương hay là bến Lê Lợi), phạm vi từ Bungalow đến phía nhà lồng chợ cá dài khoảng 440 mét. Ghe xuồng ngày đêm chuyên chở hàng hoá, trái cây khắp làng quê chợ quận về đậu dọc bờ sông này để đưa lên chợ bán. Tàu đò chở khách ngược xuôi sông rạch miệt sông Hậu đến rồi đi. Ngày trước trên bến này có 3 cầu tàu. Cầu tàu Hãng nước đá, từ đường Thủ Khoa Huân ra bến; cầu tàu Lục tỉnh từ đường Ngô Quyền (chỗ đèn ba ngọn) ra bến dành cho tàu đò khắp các tỉnh và Sài Gòn về ghé ở đây; cầu tàu chở hàng Nam Vang (chỗ nhà lồng chợ cũ &#8211; bến đò Sân Heo) dành cho các tàu chở hàng hoá đối lưu theo sông Hậu lên xuống Cần Thơ &#8211; Nam Vang (Campuchia).</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Năm 1957 khi làm Tỉnh trưởng Phong Dinh (từ 8-4-1957 đến 3-12-1959) thời Đệ nhất Cộng Hoà, ông Đỗ Văn Chước đã cho lập nơi bến sông này một công viên cây kiểng và bến dạo mát rất đẹp: dọc bờ sông kè đá thẳng tắp; trên bờ có khu công viên trồng cây kiểng, những lối đi tráng nhựa với lề xi măng len lỏi vào sân cỏ trông đẹp mắt. Những băng đá mài nhẵn bóng để khách ngồi nghỉ chân ngắm cảnh dọc bờ sông. Trong công viên có những trụ đèn, bên dưới cũng đặt băng đá mài, đêm đêm ánh sáng toả xuống thảm cỏ xanh mượt mà êm ả. Những cây cau kiểng đặt trong chậu xi măng rất đẹp, lá tủa ra lung linh theo từng cơn gió sông Hậu thổi vào&#8230; Mỗi cây kiểng có tàng cắt uốn vén khéo rất kỹ thuật; xung quanh có con đường tròn với ba lối đi vào nơi đặt bốn chiếc băng đá đâu lưng nhau. Vào những buổi chiều, du khách tha hồ vào đây dừng chân ngồi nghỉ mát, mắt nhìn ra dòng sông Hậu hiền hoà với những con đò đưa rước khách sang sông. Và phía bên kia sông là Xóm Chài nhà cửa đủ loại đủ kiểu chen trong những rặng cây nhấp nhô soi bóng dưới dòng nước hiền hoà thắm đậm phù sa mà mỗi buổi chiều từ bên này bến nhìn sang cho ta cảm nhận một nét đẹp tuyệt vời và cũng gợi trong lòng ta cái thoáng hiện mong manh vì &#8220;mịt mờ nhân ảnh&#8221;. Bởi những chiếc đò chèo đưa rước khách lướt nhẹ như sương như khói trên mặt sông trữ tình, đến nỗi thi sĩ Kiên Giang khi viết bài thơ Tình Trắng nói lên mối tình thời học trò ở Cần Thơ có đoạn:</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><em>Xóm Chài ửng nét duyên thôn nữ<br />
Gió thổi lồng bay áo túi hồng<br />
Cô lái đò ngang cười chúm chím<br />
Thầm trêu hàn sĩ lúc sang sông&#8230;</em></span></h2>
<p><img class="alignleft size-full wp-image-4285" title="congvien2" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/congvien2.jpg" alt="congvien2" width="400" height="280" /></p>
<h2><em><span style="color: #46403e;">C</span></em><span style="color: #46403e;">ũng hình ảnh những con đò dật dờ trên sông nước đưa rước khách sang sông mà nhà thơ Kiều Diễm Phượng khi đối diện với cảnh sắc hữu tình đã trang trải lòng mình trong bài Lỡ Chuyến Đò :</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><em>Tây Đô sóng nước lặng lờ trôi<br />
Một chiếc thuyền con tách bến rồi<br />
Thấp thoáng bên sông người vẫy gọi<br />
Lạnh lùng đò vẫn lướt ra khơi.</em></span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><em>Đ</em></span><span style="color: #0000ff;"><em>ôi mắt trông theo vời vợi buồn<br />
Cúi đầu lặng bước bóng chiều buông<br />
Đò đời lỡ chuyến thôi đành vậy<br />
Chẳng biết đò duyên có lỡ không ?</em></span></h2>
<h2><em><span style="color: #46403e;">T</span></em><span style="color: #46403e;">hêm một hàng dương giống loại cây tùng, thẳng đứng, xếp thành đường thẳng dọc theo lề đường Lê Lợi như trơ gan cùng mưa nắng. Ban ngày, Bến Ninh Kiều còn là nơi hành nghề của những nhà nhiếp ảnh. Du khách sẽ bắt gặp biết bao kiểu ảnh mới xinh đẹp của Bến Ninh Kiều gắn trên các bảng quảng cáo của các nhiếp ảnh viên Văn Kỉnh, Văn Mười, Hoàng Xuân Sít, Trần Văn Bé v.v&#8230; Về đêm, các bé gái, bé trai đội từng xề mía, rổ đậu phộng rang mời khách. Ở đây du khách sẽ nếm được chất ngọt ngào của mía Cần Thơ, của trái cây đặc sản miền phù sa sông Cửu.</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Năm 1966, nhà thơ Phan Yến Linh (tức Phan Trần Duyên) có về Cần Thơ. Chúng tôi gặp nhau trong thân tình văn nghệ, khi rời nơi đây, anh đã gởi lại bài thơ TỪ BIỆT NINH KIỀU, bài thơ nầy đăng trên nhật báo Miền Tây, xin trích lại để giới thiệu cùng quý bạn đọc tình cảm của một văn thi sĩ trước bến Ninh Kiều vào những tháng năm chiến tranh tàn khốc và tình hình giới nghiêm thường xuyên được ban ra trong lòng thành phố Cần Thơ.</span></h2>
<h1><span style="color: #000000;">TỪ BIỆT NINH KIỀU</span></h1>
<h2><span style="color: #0000ff;"><em>Tôi đến đây năm hôm rồi em<br />
Lang thang qua phố mưa buồn thêm<br />
Ninh Kiều bến đợi ai xa lạ<br />
Tôi chỉ mình tôi ngắm bóng mình.</em></span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><em>Thuốc đóm loè như đèn trên sông<br />
Thuyền ai về đó có xuôi dòng!<br />
Tôi người xa xứ đi phương lạ,<br />
Đến chẳng ai mừng &#8211; đi cũng không.</em></span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><em>Làm khách năm hôm làm khách trọ,<br />
Gió mang ý lạc nhớ cô phòng.<br />
Ở đây son phấn lên từng đợt,<br />
Đã bẩn bao nhiêu đời trắng trong?</em></span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><em>Mai nầy giã từ Tây Đô ơi!<br />
Duyên em còn ửng nét môi cười.<br />
Hãy quên tóc rối người lang bạt,<br />
Đừng nhắc chung tình, hẹn lứa đôi.</em></span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"><em>Cho nước Tiền Giang êm thắm chảy,<br />
Hậu Giang cũng ngọt chuyến đò xuôi.<br />
Nửa đêm quán trọ ngùi tâm sự,<br />
Mai lại làm thân én cuối trời.</em></span><br />
(thơ Phan Yến Linh)</h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Do đề xuất của ông Ngô Văn Tâm, Trưởng ty Nông Nghiệp, đồng thời phụ trách đoàn Thanh Niên 4T (tức Khuyến Nông), ông Đỗ Văn Chước đã đệ trình lên Tổng Thống Ngô Đình Diệm xin đặt tên công viên và bến là Ninh Kiều. Ông đã dựa vào lịch sử Việt Nam, lấy tên một địa danh lịch sử chiến thắng quân Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi thống lãnh : &#8220;Cho nên đánh trận đầu ở Trà Long mà lấy lại được đất Nghệ An, Thanh Hoá; đánh trận nữa ở Ninh Kiều mà thu lại cõi bờ nước Đại Việt&#8221; (1). &#8220;Tuy Động thây phơi đầy đất, Ninh Kiều máu chảy thành sông&#8221; (2). Ninh Kiều chính là một địa danh đã diễn ra trận đánh ác liệt và cũng là chiến thắng lớn đầu tiên của nghĩa quân Lam Sơn kể từ khi mở cuộc hành quân ra đất Bắc. Trận đánh diễn ra vào ngày 12 tháng 8 năm Bính ngọ (tức ngày 13-9-1426), khi nghĩa quân Lam Sơn tiến quân ra Bắc, Đô Bí Lý Triển và Trịnh Khả mai phục giặc ở Ninh Kiều và đã chiến thắng hoàn toàn, tiêu diệt trên 2.000 quân Minh. Tướng giặc là Trần Trí phải tháo chạy về Đông Quan (Hà Nội ngày nay) chờ quân cứu viện. Sau trận này Trần Trí bị cách chức Tổng binh. Chính trận Ninh Kiều đã tạo ra tiền đề cho trận đại thắng ở Tốt Động vào ngày mùng 7 tháng 10 năm Bính ngọ (7-11-1426) tiêu diệt hơn 60.000 quân Minh.</span></h2>
<p><img class="alignleft size-full wp-image-4286" title="congvien3" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/congvien3.jpg" alt="congvien3" width="400" height="252" /></p>
<h2><span style="color: #000000;">Một góc BẾN NINH KIỀU buổi sáng sớm, nhiều người lớn tuổi ra tập dưỡng sinh&#8230; (ảnh chụp tháng 12/1998)</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Ta có thể hình dung địa thế nơi đó : &#8220;Để tiến công quân ta ở gần Đông Quan, 10 vạn quân Minh đã bố trí theo thế cánh quạt ở phía Tây và</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Tây Nam Đông Quan, quân của Vương Thông tiến ra vùng Cổ Sở (nay là vùng An Sở ven sông Đáy) làm căn cứ xuất phát, từ phía Bắc đánh xuống Ninh Kiều; quân của Mã Kỳ lấy bàn đạp cầu Thanh Oai, tiến công từ phía Đông. Kế hoạch tiến công từ ba căn cứ Cổ Sở, Sa Đôi, Thanh Oai cùng một lúc tiến vào Ninh Kiều hợp vây tiêu diệt quân ta ở vùng Chương Mỹ (Hà Đông ngày nay)&#8221; (3). Qua khảo sát thực địa, trận địa này diễn ra từ xóm Phù Ninh (làng Yên Duyệt) đến xóm Đồng Kiều (làng Tốt Động) gọi là trận Ninh Kiều ở vào khoảng gần giữa xã Tốt Động ngày nay. Xóm Phù Ninh và Đồng Kiều cách nhau khoảng 1.500 mét đường chim bay, phía Đông và Nam tiếp cận với &#8220;Suối Ninh Kiều&#8221;, phía Tây giáp sông Bùi, phía Bắc giáp sông Vạc (nơi có chim vạc đến làm tổ sinh sống). Như thế tên Ninh Kiều là ghép hai tên xóm Phù Ninh và Đồng Kiều thuộc xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Việc chọn tên Ninh Kiều để đặt cho một bến và công viên mới thành lập dọc theo đường và bến Lê Lợi rõ ràng là có ý nghĩa và phù hợp với chiến tích lẫy lừng của người anh hùng áo vải đất Lam Sơn mà người địa phương trước đây đã chọn đặt cho một tên đường dọc theo một bến sông hiền hoà sông nước, màu mỡ phù sa ven thành phố Cần Thơ.</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Ngày 4 tháng 8 năm 1958, ông Lâm Lễ Trinh, người quê quán Cái Răng (Cần Thơ), Bộ Trưởng Nội Vụ thời Đệ nhất Cộng Hoà, đã từ Sài Gòn xuống Cần Thơ dự lễ cắt băng khánh thành, đọc Nghị định đặt tên công viên và bến Ninh Kiều theo đề nghị của ông Đỗ Văn Chước (4). Sự có mặt của tên bến Ninh Kiều chỉ đơn giản như vậy. Nơi bến sông này chưa hề xảy ra trận đánh ác liệt và lịch sử nào (ngoại trừ khu vực Tham Tướng có diễn ra trận đánh giữa Lý Chính hầu Mạc Tử Sanh (con của Mạc Thiên Tứ) đánh nhau với quân Tây Sơn nơi Trấn Giang và đã tử trận ở con rạch này năm Ất mùi 1775 &#8211; Tham Tướng là chức vụ của Mạc Tử Sanh, vì vậy con rạch nơi ông tử trận được chính quyền và triều đình nhà Nguyễn đặt tên rạch Tham Tướng; trước năm 1975 con đường từ cầu Tham Tướng đi Cái Răng được mang tên Mạc Tử Sanh). Bến Ninh Kiều nhanh chóng trở nên quen thuộc với người địa phương và du khách khắp nơi có dịp đến Cần Thơ, có lẽ do cảnh trí địa lý và khi hậu ôn hoà của miền Hậu Giang sông nước. Một nhà văn có lời giới thiệu mời gọi thật quyến rủ : &#8220;Bạn có về Miền Tây nhớ ghé thăm cảnh đẹp Tây Đô, một thành phố giàu sang, xinh đẹp, nằm cạnh dòng sông Bassac dịu hiền&#8221;. Tây Đô được xem là thủ phủ Miền Tây, cũng là Cần Thơ cảnh lịch người xinh, trong đó có Bến Ninh Kiều là niềm hãnh diện của mỗi người dân Cần Thơ!</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Có một thời gian dài, nhất là sau năm 1975 đến nay, bến Ninh Kiều thiếu sự chăm sóc. Du khách về tới Cần Thơ muốn ra dạo bến Ninh Kiều, đã phải tiếc rẻ bởi sự &#8220;xuống cấp&#8221; trầm trọng của nó. Hình ảnh xinh đẹp nên thơ hữu tình vang tiếng một thời chỉ còn trong những tấm ảnh của các nhà nhiếp ảnh Trần Văn Bé, Hoàng Xuân Sít, Văn Kỉnh, Văn Trắng, Văn Mười&#8230; mà theo thời gian và số phận của từng tác giả cũng đã chìm sâu trong quên lãng cuộc đời.</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Một anh bạn, năm 1988, từ miền du lịch Nha Trang cát trắng vào chơi, có nêu suy nghĩ : &#8220;Nếu khu công viên cây kiểng được chăm sóc vén khéo, băng ghế đá, bờ đá kè dọc theo bờ sông luôn giữ được sạch đẹp&#8230; nhất là ngăn chận được mọi tệ nạn trà trộn, xâm nhập nơi đây, bến Ninh Kiều mới thật sự &#8220;đẹp&#8221;, &#8220;nên thơ&#8221;, mới xứng đáng mang tên một trận đánh lịch sử hào hùng của người anh hùng áo vải đất Lam Sơn: Bình định vương Lê Lợi. Con đường đổi tên hai Bà Trưng, dù là nhân vật lịch sử rất đáng tôn kính, nhưng nếu trả về tên Lê Lợi như ngày trước thì phù hợp với tên công viên và bến hơn. Chừng đó, mỗi du khách dù người trong nước hay ngoại kiều đến với Cần Thơ, với thành phố thủ phủ Miền Tây nằm ven sông Hậu, khu vực trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, bốn mùa khí hậu hiền hoà, mới mạnh dạn cho rằng </span><span style="color: #000000;">&#8220;Cần Thơ có bến Ninh Kiều&#8221;&#8230;</span></h2>
<h2><img class="alignleft size-full wp-image-4287" title="congvien4" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/congvien4.jpg" alt="congvien4" width="400" height="290" /><br />
<span style="color: #000000;"> Toàn cảnh BẾN NINH KIỀU hôm nay (ảnh của LINH PHƯỢNG tặng tác giả bài viết, tháng 12/1998)</span></h2>
<h2><span style="color: #46403e;">Câu nói chí tình của anh bạn phương xa đối với nơi mình sinh ra và lớn lên đã gợi trong lòng tôi nỗi ray rứt bởi thực tế của nhiều năm qua. Bây giờ công viên Ninh Kiều dù đã từng bước được chỉnh trang, nhưng cần có kế hoạch đầu tư xây dựng và quy hoạch nâng cấp cao hơn nữa mới đáp ứng yêu cầu thưởng ngoạn của du khách. Các cửa hàng buôn bán, quán cà phê đã mọc lên trong khu vực công viên cũng nên dời đi nơi khác, kể cả tượng đài, vì nó làm kém đi mỹ quan của cảnh trí nơi đây: cần một không gian thoáng rộng, để mỗi đêm khi cả thành phố lên đèn, ánh điện sẽ soi bóng nhấp nhô dưới dòng nước trong lành. Đứng trên bến Ninh Kiều mắt ta nhìn sang Xóm Chài và hướng Cồn Ấu ở đầu vàm sẽ thấy một dãi cù lao mập mờ cây lá, tạo cho ta niềm rung cảm dạt dào. Ngược lại nếu đứng từ bên kia Xóm Chài nhìn sang sẽ thấy toàn cảnh Ninh Kiều và phố sá rực rỡ ánh đèn soi bóng xuống mặt nước phù sa lấp lánh như rắc ánh vàng thật lung linh tuyệt đẹp giữa trời nước bao la, không khí trong lành nhờ cơn gió từ dòng Hậu Giang đưa vào. Còn các tệ nạn thì sao? Câu hỏi cần lời đáp, để một ngày không xa, du khách về đây với niềm vui: &#8220;Cần Thơ có bến Ninh Kiều&#8221;&#8230; Và riêng tôi dù sống xa đến nửa vòng trái đất, dù đường về còn mù mịt, nhưng từ trái tim mình hình ảnh quê hương yêu dấu vẫn mãi đậm sâu khó thể phai mờ. Thật sự nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người chính là quê hương trong trí nhớ. Tôi không hề quên câu nói nằm lòng của anh Kiên Giang : &#8220;Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương nhưng không thể tách rời con tim khỏi quê hương được&#8221;.</span></h2>
<h1><span style="color: #0000ff;">NHỮNG DÒNG GHI THÊM</span></h1>
<h2><span style="color: #46403e;">Tháng 12 năm 1998 có dịp trở lại Cần Thơ, tôi thấy sự đổi khác của công viên Bến Ninh Kiều. Toàn cảnh từ trại Yết Kiêu cũ chạy dài đến cầu tàu lục tỉnh (tức chỗ đèn ba ngọn &#8211; đầu đường Ngô Quyền và đường Hai Bà Trưng (Lê Lợi cũ) hoàn toàn là một công viên thứ tự, ngăn nắp, trồng nhiều cây cảnh mỹ thuật. Dọc mé sông là lan can bằng sắt có đặt và trồng nhiều chậu cây kiểng, ghe xuồng khắp nơi không còn đậu bừa bãi. Nhiều cây cảnh xếp đặt ngăn nắp trong khu công viên. Tất cả các lối đi tráng xi măng phẳng lỳ. Nhiều thùng rác công cộng đặt tại những vị trí cần thiết, với hình tượng con chim cánh cụt đang há miệng, bên dưới có hàng chữ &#8220;xin cho tôi rác&#8221; &#8211; hàng chữ khôi hài nầy đã tác động được ý thức mọi người, nên công viên ngày nay khá sạch sẽ ngoài tưởng tượng của nhiều người có dịp trở lại đây. Tất cả hàng quán bề bộn năm nào đã hoàn toàn biến mất. Các cô gái mãi dâm, các người ăn xin, ngủ lang thang, bụi đời&#8230; không còn lảng vảng quanh đây. Mỗi khuya sớm, rất đông người lớn tuổi tập trung trong khu công viên nầy để tập &#8220;dưỡng sinh&#8221;, hít thở không khí trong lành ban mai từ sông Hậu hiền hoà thổi vào là hình ảnh khao khát thanh bình của dân tộc.</span></h2>
<h1><span style="color: #0000ff;">LÊ CẦN THƠ</span></h1>
<h2><span style="color: #808000;"> (Trong QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN,<br />
tác giả tự xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ)</span></h2>
<h2><img class="alignleft size-full wp-image-4288" title="a" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/a4.gif" alt="a" width="467" height="17" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4289" title="Bến Ninh Kiều 1965" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/Bến-Ninh-Kiều-1965.jpeg" alt="Bến Ninh Kiều 1965" width="400" height="277" /><span style="color: #0000ff;"> </span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Bến Ninh Kiều Cần Thơ năm 1965 (ảnh Nguyễn Ngọc Thạch, Calgary, Canada)</span><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4290" title="yenlabusinesscard211-300x171" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/yenlabusinesscard211-300x1714.jpg" alt="yenlabusinesscard211-300x171" width="350" height="199" /></h2>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/27/truy%e1%bb%87n-ng%e1%ba%afn-11/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>HAPPY THANKSGIVING DAY</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/26/happy-thanksgiving-day-2/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/26/happy-thanksgiving-day-2/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Nov 2009 17:36:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4371</guid>
		<description><![CDATA[ 

Vườn Thơ
 TRANG NHÀ
 Phạm Khắc Trí &#8211; Nguyễn Thị Thanh Dương &#8211; Trầm Vân –
Nguyên Nhung – Hương Sa Mạc
________________________________________________

HAPPY THANKSGIVING 11/26/2009


Tôi muốn tìm lời đẹp ,
Nhân Ngày Lễ Tạ Ơn ,
Năm nay nơi đất khách ,
Nói mấy lời cám ơn.
Cám ơn trời tử tế ,
Dù bao ups and downs ,
Đã nổi trôi [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><img class="alignleft size-full wp-image-4372" title="autummm_jpg_w300h400" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/autummm_jpg_w300h400.jpg" alt="autummm_jpg_w300h400" width="300" height="400" /><span style="color: #ff0000;"> </span></h1>
<h1><span style="color: #ff0000;"><br />
Vườn Thơ</span><br />
<span style="color: #ff00ff;"> TRANG NHÀ</span><br />
<span style="color: #0000ff;"> Phạm Khắc Trí &#8211; Nguyễn Thị Thanh Dương &#8211; Trầm Vân –<br />
Nguyên Nhung – Hương Sa Mạc</span><br />
________________________________________________<br />
<img class="aligncenter size-full wp-image-4373" title="TL_Thanksgiving" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/TL_Thanksgiving.gif" alt="TL_Thanksgiving" width="320" height="372" /></h1>
<h1><span style="color: #ff0000;">HAPPY THANKSGIVING 11/26/2009</span></h1>
<h2><span style="color: #ff0000;"><br />
</span></h2>
<h2><span style="color: #ff0000;">Tôi muốn tìm lời đẹp ,<br />
Nhân Ngày Lễ Tạ Ơn ,<br />
Năm nay nơi đất khách ,<br />
Nói mấy lời cám ơn.</span></h2>
<h2><span style="color: #ff0000;">Cám ơn trời tử tế ,<br />
Dù bao ups and downs ,<br />
Đã nổi trôi vất vưởng ,<br />
Vẫn chưa đến nỗi nào.</span></h2>
<h2><span style="color: #ff0000;">Vẫn còn người thân quí ,<br />
Vẫn còn có trăng sao ,<br />
Vẫn còn thơ với thẩn ,<br />
Giữ đời bớt lao đao.</span></h2>
<h2><span style="color: #ff0000;">And, last but not least ,<br />
Còn có thơ tào lao ,<br />
Cho vui cùng bằng hữu ,<br />
Cười vang lên đi nào.</span></h2>
<h2><span style="color: #ff0000;">HAPPY THANKSGIVING TO ALL !<br />
Tri Khac Pham Phamid@msn.com</span></h2>
<h1><span style="color: #008000;">C</span><span style="color: #008000;">ÁM ƠN MỘT NGÀY TRONG ĐỜI.</span></h1>
<p><span style="color: #008000;"><br />
</span></p>
<h2><span style="color: #008000;">Mặt trời mở ra bao nhiêu ân huệ,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Ban phát cho đời, cho tôi, cho anh,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Xin cám ơn giọt sương mai nhỏ bé,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Cám ơn từng tia nắng của bình minh.</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Một ngày bắt đầu thật là kỳ diệu,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Cửa sổ mở ra để đón gío vào,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Cánh hoa dại bên chân tường đơn điệu,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Cũng mỉm cười trong nắng gío xôn xao.</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Tôi vươn vai cuộc hành trình buổi sáng,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Nhịp sống này như dòng nước cuốn đi,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Đường phố đông người mọi nơi, mọi chốn,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Tôi không lẻ loi khao khát ước mơ.</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Xin cám ơn mặt trời vừa đánh thức,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Tôi hân hoan được đối diện cuộc đời,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Mỗi ngày qua là mỗi ngày hạnh phúc,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Dù gian nan, dù bao nỗi buồn vui .</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Không còn nữa ánh mặt trời chói lọi,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Khi hoàng hôn đã ngủ ở chân mây,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Cánh cửa sổ bàn tay tôi khép lại,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Nhưng ân huệ đời còn suốt đêm nay.</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Những bận bịu của một ngày đã hết,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Đường còn dài dù kiếp sống mong manh,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Đêm huyền diệu với tình anh thương mến,</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Ân tình này xin được cám ơn anh.</span></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Nguyễn Thị Thanh Dương</span></h2>
<h1><span style="color: #0000ff;">THANKSGIVING</span></h1>
<h2><span style="color: #0000ff;">Thanksgiving Lễ Tạ Ơn<br />
Nhớ song thân giọt lệ buồn rưng rưng<br />
Công ơn biển rộng vô cùng<br />
Nuôi con khôn lớn còng lưng tháng ngày</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Ơn người yêu ấm vòng tay<br />
Nụ hôn thắp lửa lòng say đắm lòng<br />
Bờ sông bến hẹn đò mong<br />
Tiếng chim ngấn sóng mây chùng gió thương</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Áo bay cỏ dậy mùi hương<br />
Hàng cây mơ ngủ con đường chiêm bao<br />
Môi hồng rót tiếng ngọt ngào<br />
Bóng đêm chếnh chóang ánh sao rơi tình</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Ơn em một nửa thân anh<br />
Sợi tình vẽ nắng quanh vành nón nghiêng<br />
Ông tơ bà nguyệt se duyên<br />
Trầu cau đỏ mặt môi mềm trao môi</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Chia cay xẻ ngọt một đời<br />
Khi hờn khi giận yêu thời vẫu yêu<br />
Tháng ngày ve vuốt nuông chiều<br />
Đôi tim rung đập chia đều ơn nhau</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Thương tô cháo lúc ốm đau<br />
Muỗng thìa em múc tình sâu ngọt mềm<br />
Xa em cô quạnh từng đêm<br />
Em về nhún nhẩy cả thềm hoa thơm</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Bạn trò thân thuộc mang ơn<br />
Tấm lòng thương giúp đỡ buồn vui qua<br />
Nụ cười ẩn giấu hồn hoa<br />
Ấm lời thăm hỏi món quà trao thương</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Tìm về kỷ niệm mái trường<br />
Long lanh ánh mắt vấn vương lời thầy<br />
Bút đưa dài tuổi thơ ngây<br />
Mà sao ngắn quá những ngày lớp vui</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Bảng xanh bụi phấn nhẹ rơi<br />
Tóc thầy chấm bạc nụ cười lại xanh<br />
Đêm mưa sũng ướt lòng mình<br />
Chừng nghe giọt nhớ chạy quanh nổi chìm</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Ơn đời ghi khắc trong tim<br />
Ruộng đồng ngọn lúa thơm nghiêng cánh vàng<br />
Bàn tay khai phá đất hoang<br />
Biết bao sản phẩm rịn hàng mồ hôi</span></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;">Thanksgiving cám ơn người<br />
Nghĩa tình giăng võng hồn tôi đưa ngày<br />
Trầm Vân</span></h2>
<h1><span style="color: #993300;">TRI  KỶ  TÌM  ĐÂU  THẾ  ĐỦ  RỒI!</span></h1>
<h2><span style="color: #993300;">Buổi sáng ra vườn thăm cây cỏ<br />
Nghe thoảng từ xa tiếng gió cười<br />
Giây tóc tiên mềm hoa thắm đỏ<br />
Mấy nụ hồng xinh ướt đẫm sương</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;">Đâu đó quanh đời , ôi! ngát hương<br />
Những người bạn nhỏ rất dễ thương<br />
Hoa rung rung cánh chào duyên dáng<br />
Xào xạc đào nghiêng cuống lá mềm</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;">Lẫn trong vạt cỏ chùm hoa tím<br />
Dịu dàng nép bóng với cỏ cây<br />
Đơn sơ, không sắc màu lộng lẫy<br />
Mà tuyệt vời hơn bao ý thơ</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;">Buổi sáng nghiêng nghiêng tia nước thở<br />
Phả xuống cỏ hoa lời tri ân<br />
Dẫu không nói được niềm tâm sự<br />
Yên lặng nhìn nhau, ý thật gần</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;">Những người bạn quý của tôi ơi!<br />
Đêm qua ẩm ướt giọt sương rơi<br />
Lung linh một mảnh sao trời vỡ<br />
Gió quyện hương thầm gieo khắp nơi</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;">Im lặng nhìn nhau chẳng một lời<br />
Cho đi là nhận lại niềm vui<br />
Ta gặp nhau đây tình  tri kỷ<br />
Hiểu được lòng nhau, thế đủ rồi!</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;">Nguyên Nhung</span></h2>
<h1><span style="color: #993366;">CẢM TẠ ƠN TRỜI ĐẤT</span></h1>
<h2><span style="color: #993366;">Tình yêu biển cả bao la,<br />
Cho cha, cho mẹ, cho ta, cho người<br />
Cám ơn Trời Đất muôn loài<br />
Cho ta luôn vẹn hình hài từ đâu</span></h2>
<h2><span style="color: #993366;">Tình thương từ chốn thẩm sâu<br />
Ta càng phung phí càng thâu lượm nhiều<br />
Cho người vất vả sớm chiều<br />
Cho người lận đận tình yêu vơi đầy</span></h2>
<h2><span style="color: #993366;">Cứ cho cho cả Đông Tây<br />
Đừng nên tiết kiệm bắt cầu yêu thương<br />
Mai kia muôn vạn nẽo đường<br />
Còn gì để lại ngoài Thương và Tình?!!!</span></h2>
<h2><span style="color: #993366;">Hương Sa Mạc</span></h2>
<p><img class="alignleft size-full wp-image-4375" title="a" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/a8.gif" alt="a" width="467" height="17" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4376" title="DSC_0289" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/DSC_0289.JPG" alt="DSC_0289" width="350" height="234" /><img class="aligncenter size-full wp-image-4377" title="yenlabusinesscard211-300x171" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/yenlabusinesscard211-300x1718.jpg" alt="yenlabusinesscard211-300x171" width="350" height="199" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/26/happy-thanksgiving-day-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>GIỚI THIỆU SÁCH</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/22/gi%e1%bb%9bi-thi%e1%bb%87u-sach-2/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/22/gi%e1%bb%9bi-thi%e1%bb%87u-sach-2/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 23 Nov 2009 03:00:23 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4303</guid>
		<description><![CDATA[Tiến Sĩ ĐÀM TRUNG PHÁP
Giáo Sư Ngôn Ngữ Học
Texas Woman&#8217;s University
Giới thiệu sách mới
QUÊ HƯƠNG
XA MÃI
NGÚT NGÀN
Bút ký của LÊ CẦN THƠ
Tác giả tự xuất bản đầu năm 2000, không đề ấn phí
Địa chỉ liên lạc: 10430 Heather Hill Drive, Houston, TX 77086


Nỗi nhớ quê hương là một chủ đề văn chương dễ gây xúc [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><span style="color: #800000;">Tiến Sĩ ĐÀM TRUNG PHÁP</span></h1>
<h2><span style="color: #993300;">Giáo Sư Ngôn Ngữ Học<br />
Texas Woman&#8217;s University</span></h2>
<h2>Giới thiệu sách mới</h2>
<h1><span style="color: #ff0000;">QUÊ HƯƠNG<br />
XA MÃI<br />
NGÚT NGÀN</span></h1>
<h2><span style="color: #0000ff;">Bút ký của LÊ CẦN THƠ</span></h2>
<h2>Tác giả tự xuất bản đầu năm 2000, không đề ấn phí<br />
Địa chỉ liên lạc: 10430 Heather Hill Drive, Houston, TX 77086</h2>
<h2><img class="alignleft size-full wp-image-4304" title="quehuongxa" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/quehuongxa.jpg" alt="quehuongxa" width="400" height="592" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4305" title="thoquehuong" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/thoquehuong.jpg" alt="thoquehuong" width="450" height="720" /><strong></strong></h2>
<h2><strong><span style="color: #423b38;">Nỗi nhớ quê hương là một chủ đề văn chương dễ gây xúc động trong tâm tư người đọc từ trước đến nay, từ đông sang tây. Gần ba nghìn năm trước đây, vai chánh Ulysse trong thiên anh hùng ca &#8220;Odyssée&#8221; của thi hào Homère xứ Hy Lạp đã náo nức (và người đọc cũng náo nức lây vì chàng) được trở về quê cũ đoàn tụ với người vợ Pénélope thủy chung, sau hàng chục năm dài chinh chiến, với biết bao rằn vặt vì lòng hoài hương. Thi sĩ Thôi Hiệu đời Đường đã ray rứt với nỗi nhớ nhà trong bài thơ bất hủ &#8220;Hoàng Hạc Lâu&#8221; mà hai câu cuối Tản Đà đã chuyển ngữ thần tình sang ngôn ngữ chúng ta:</span></strong></h2>
<h2><span style="color: #0000ff;"> Quê hương khuất bóng hoàng hôn,<br />
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.</span><br />
<span style="color: #423b38;"> Gần đây hơn, trong thời kỳ lãng mạn tại nước Pháp, thi hào Lamartine trong bài &#8220;Vallon&#8221; đã thiết tha ôn lại những kỷ niệm nơi quê cũ trong một thung lũng nhỏ, với những con suối, những đường mòn, những bụi cây, những khung trời quen thuộc. Rồi thi nhân tự hỏi, phải chăng những vật vô tri giác đó cũng có một tâm hồn như chàng, khắng khít đến nỗi bắt tâm hồn chàng phải yêu chăng?</span><br />
<span style="color: #0000ff;"> Objets inanimés, avez-vous donc une âme,<br />
Qui s&#8217;attache à notre âme et la force d&#8217;aimer?</span><br />
<span style="color: #423b38;"> Lê Cần Thơ cũng đã chọn chủ đề nhớ quê hương cho tập bút ký mà tôi hân hạnh được giới thiệu cùng quý độc giả. Anh không những đã mệnh danh cuốn sách một cách nên thơ là &#8220;Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn&#8221; mà anh còn vào tập với nhận định rằng &#8220;Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương nhưng không thể tách rời con tim khỏi quê hương được&#8221;. Tôi nghĩ nếu Homère, Thôi Hiệu, Tản Đà, Lamartine mà còn sống hôm nay thì họ cũng sẽ phải vỗ tay tán đồng nhận định ấy của anh thôi!<br />
Thành tâm, tha thiết, cởi mở, hiếu hạnh, nhân ái, khiêm cung là những tính từ tôi chọn để mô tả phong thái viết văn của Lê Cần Thơ. Người đọc không thể không &#8220;thương&#8221; anh ngay tức khắc, vì trong phần vào tập anh đã khiêm tốn tâm sự &#8220;Tôi đã sống trong miền quê Trường Long nghèo khó từ thuở mới chào đời, đã hít thở không khí thôn dã quê mùa, nên trong cách nhìn, cách nghĩ của mình cũng không thoát khỏi cái phong vị nơi mình chào đời&#8221; (trang 9). Anh thành tâm trong việc quý mến và tôn vinh những tiền nhân khả kính trong vùng như cụ Thủ Khoa Bùi Hữu Nghĩa (tác giả bản tuồng &#8220;Kim Thạch Kỳ Duyên&#8221;), cụ Cử Nhân Phan Văn Trị (một nhà thơ yêu nước, nổi tiếng trong cuộc bút chiến với kẻ tay sai cho giặc Pháp mang tên Tôn Thọ Tường), cụ Thoại Ngọc Hầu (người có công lớn trong việc khai hoang lập ấp vùng Hậu Giang). Những lời nói, lời thơ hiếu hạnh anh dành cho thân phụ làm tôi xúc động mạnh. Người cha hiền lành phất phác ấy &#8220;cuộc đời ròng rã mấy mươi năm, vừa bám đồng ruộng để làm ra hạt lúa, vừa phải hằng đêm lặn hụp dưới sông rạch để bắt cá, nuôi sống cả gia đình&#8221;, và khi về già cũng đã phải &#8220;lặn lội tìm thăm&#8221; anh trong trại tù cải tạo ở Cai Lậy. Nghiệt ngã thay, khi anh được thả về nhà thì thân phụ đã qua đời được 49 ngày! Trong bài thơ &#8220;Ghe Đăng&#8221; viết tặng người cha quá vãng, anh chỉ ước mơ giản dị như sau mà định mệnh chẳng cho (trang 116):</span><br />
<span style="color: #0000ff;"> Nếu phải non sông ngừng chiến trận<br />
Yên vui thôn xóm rộn hoan ca<br />
Con về bên chiếc ghe đăng cá<br />
Sưởi ấm lòng ba lúc tuổi già&#8230;</span><br />
<span style="color: #423b38;"> Tuy anh khiêm tốn tự nhận mình chỉ &#8220;tập tành viết lách, lan man, chắp vá&#8221;, tôi thấy anh là một người kể chuyện khá sinh động và hấp dẫn. Là một người Hà Nội di cư vào Nam, tôi đã chỉ sống quanh quẩn ở Sài Gòn, cho nên cuốn bút ký của anh về miền Hậu Giang đã giúp tôi hiểu được nếp sống của đồng bào tại miền đất dễ thương ấy của quê hương chúng ta. Qua ngòi bút của anh, những địa danh, những nhân danh, những đất lề quê thói trong vùng quê hương anh hiện lên sống động. Tôi như được thấy tận mắt lối sống giản dị lành mạnh nơi anh sinh trưởng, qua những điều anh mô tả cách bắt chuột đồng bằng &#8220;dậm cù&#8221;, bắt lươn bằng &#8220;trúm&#8221;, bắt cá sặt bằng &#8220;lờ&#8221;, bắt chim bằng&#8230; lưỡi câu cá! Nhiều chuyện anh kể thực hấp dẫn và khó quên, nào là ông thầy giáo cũ bị ma quỷ ám té bất tỉnh trong lớp học (trang 107), nào là giọng ca trữ tình mùi mẫn bất hủ của Út Trà Ôn trong bản &#8220;Tình Anh Bán Chiếu&#8221; (trang 141),, nào là nỗi bất hạnh &#8220;đầu thai lầm thế kỷ&#8221; để đến nỗi bà con anh em ruột thịt bắn giết lẫn nhau trong cuộc chiến mới đây (trang 167).<br />
Tôi đã thích thú trọn vẹn khi đọc bút ký &#8220;Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn&#8221; của Lê Cần Thơ, và vì vậy xin trang trọng giới thiệu tác phẩm rất đáng đọc này của anh vớI quý vị độc giả gần xa.</span></h2>
<h1>Tiến Sĩ ĐÀM TRUNG PHÁP</h1>
<h2>Giáo Sư Ngôn Ngữ Học</h2>
<h2>Texas Woman&#8217;s University</h2>
<h2>(trích tạp chí VĂN HOÁ VIỆT NAM số 10 – Mùa Thu 2000 (tr.160-162)</h2>
<h2><img class="alignleft size-full wp-image-4306" title="a" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/a5.gif" alt="a" width="467" height="17" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4307" title="Công viên Bến Ninh kiều" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/Công-viên-Bến-Ninh-kiều.jpeg" alt="Công viên Bến Ninh kiều" width="400" height="293" /></h2>
<h2><span style="color: #008000;">Bến Ninh Kiều Cần Thơ năm 1965, nhìn từ Cầu tàu Hải Quân xuống Chợ Nhà Lồng. (Ảnh, Nguyễn Ngọc Thạch, Calgary, Canada)</span><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4308" title="yenlabusinesscard211-300x171" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/yenlabusinesscard211-300x1715.jpg" alt="yenlabusinesscard211-300x171" width="350" height="199" /></h2>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/22/gi%e1%bb%9bi-thi%e1%bb%87u-sach-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>VƯỜN THƠ</title>
		<link>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/22/v%c6%b0%e1%bb%9dn-th%c6%a1-3/</link>
		<comments>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/22/v%c6%b0%e1%bb%9dn-th%c6%a1-3/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 23 Nov 2009 03:00:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin tức bài vở mới cập nhật]]></category>
		<category><![CDATA[Văn học, nghệ thuật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.ptgdtdcanada.com/?p=4327</guid>
		<description><![CDATA[Vườn thơ
 TRANG NHÀ
 THƠ: Paris la Nuit &#8211; Jacques Prévert
Bản Việt ngữ: Võ Hiếu Nghĩa, Trầm Vân, Phùng Quang Lộc, Nguyên Nhung, Trần Thiện Hiệp, Thanh Hương
Khung thơ: Võ Văn Trí










]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><span style="color: #ff0000;">Vườn thơ</span><br />
<span style="color: #0000ff;"> TRANG NHÀ</span><br />
<span style="color: #ff6600;"> THƠ: Paris la Nuit &#8211; Jacques Prévert</span></h1>
<h2><span style="color: #993366;">Bản Việt ngữ: Võ Hiếu Nghĩa, Trầm Vân, Phùng Quang Lộc, Nguyên Nhung, Trần Thiện Hiệp, Thanh Hương</span></h2>
<h2><span style="color: #993300;">Khung thơ: Võ Văn Trí</span></h2>
<p><img class="alignleft size-full wp-image-4328" title="ParisLaNuit_JP" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/ParisLaNuit_JP.jpg" alt="ParisLaNuit_JP" width="450" height="338" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4329" title="ParisBanDem_VHN" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/ParisBanDem_VHN.jpg" alt="ParisBanDem_VHN" width="450" height="355" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4330" title="DemParis_TH" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/DemParis_TH.jpg" alt="DemParis_TH" width="450" height="436" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4331" title="ParisBanDem_PQL" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/ParisBanDem_PQL.jpg" alt="ParisBanDem_PQL" width="450" height="353" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4332" title="ParisVeDem_NN" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/ParisVeDem_NN.jpg" alt="ParisVeDem_NN" width="450" height="338" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4333" title="NhenAmDemNay_TranThienHiep" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/NhenAmDemNay_TranThienHiep.jpg" alt="NhenAmDemNay_TranThienHiep" width="450" height="443" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4334" title="DemParis_TH" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/DemParis_TH1.jpg" alt="DemParis_TH" width="450" height="436" /></p>
<p><img class="alignleft size-full wp-image-4335" title="a" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/a6.gif" alt="a" width="467" height="17" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4336" title="Paris" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/Paris.jpg" alt="Paris" width="450" height="600" /><br />
<img class="alignleft size-full wp-image-4337" title="yenlabusinesscard211-300x171" src="http://www.ptgdtdcanada.com/wp-content/uploads/2009/11/yenlabusinesscard211-300x1716.jpg" alt="yenlabusinesscard211-300x171" width="350" height="199" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.ptgdtdcanada.com/2009/11/22/v%c6%b0%e1%bb%9dn-th%c6%a1-3/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
